UNG THƯ VÙNG HÀM – HẦU – HỌNG

Ung thư vùng hàm – hầu – họng là một bệnh ung thư phổ biến trong nhóm ung thư. Một số yếu tố có thể góp phần vào sự phát triển của nó, bao gồm cả hút thuốc uống rượu, và tiếp xúc với chất gây ô nhiễm không khí, gây ra, trong đó đáng sợ nhất là ung thư vòm họng (gây đau đớn cao nhất trong các loại ung thư). Ung thư vòm họng thường được điều trị bằng phẫu thuật, xạ trị hoặc hóa trị liệu, hoặc một sự kết hợp của những phương pháp điều trị bằng thảo dược. 

UNG THƯ HÀM – VÒM HỌNG

Qua chẩn mạch, người bệnh bị ung thư hàm – vòm họng thời kỳ thứ 2. Triệu chứng trước mắt là khối u phát triển từ hàm trên bên trái nặng 180g gây sưng, chảy mủ và đau đớn. Bệnh nhân dùng rượu để quên đau đớn (nhất là vào lúc chiều tối) nên càng làm tăng kích thước khối u, dẫn đến nguy cơ hoại tử cả vùng hàm – họng.

Liệu pháp:

1/. Dùng bài thuốc Bảo Tinh Đan chặn đứng ung thư vùng hầu – họng.

Trái sung khô 60g. 2 quả táo tàu. Lá đu đủ 3 lá, bỏ cuống. Trinh nữ hoàng cung 3 lá già. Tỏi tươi một củ giã nát. Đinh lăng một nắm, bạc hà một nắm (tươi hoặc khô).

Hai nước như nhau: tất cả cho vào 3 chén nước sắc còn 1 chén. Nửa ngậm nửa uống, bã đắp lên khối u.

Bài thuốc sử dụng trong 7 đến 10 ngày. Khi giảm mủ và khối u xẹp còn 30% đến 50% thì dung bài thuốc tấn công.

2/. Bài thuốc Hòan cốt đan diệt nang bào ung thư vòm hầu – họng:

Xáo tam phân 30g. Xạ đen 30g. Lá đu đủ 3 lá. Đinh lăng 25g. Rau diếp cá 25g. Bạc hà đất 25g. Nấm lim xanh 30g. Tảo chân vịt 30g. Sâm đại hành 40g. Hoài sơn (khoai mài) 40g. Mã tiền nửa hạt.. Ngũ gia bì 20g. Tỏi 2 củ.

Sắc 3 chén còn 1 chén, 3 nước như nhau, chia uống ngày 3 lần. Tuần đầu ngày 1 thang, tuần tiếp theo 2 ngày 1 thang. Dược trình 12 thang.

3/. Kiêng cữ : Kiêng cữ uống rượu bia, hút thuốc lá, không nên ăn các loại hạt nấm mốc, dưa cà lên men, dưa muối còn tươi, Bổ sung các loại rau củ quả chứa chất chống oxy hóa Fenolics, khoáng chất và Vitamin trong bữa ăn. Luyện tập thể dục đều đặn.

UNG THƯ VÒM HỌNG

Ung thư vòm họng là dạng điển hình và tập trung của ung thư vùng hàm – hầu – họng. Việc chữa trị bao gồm liệu pháp chung của ung thư vùng hàm – hầu – họng, hoặc bài thuốc phức tạp chỉ định riêng cho ung thư vòm họng.

Bài thuốc Tái sinh hầu:

1- Lá trinh nữ hoàng cung: 3 lá già 

2- Lá đu đủ: 3 lá, bỏ cuộng

3- Tỏi tươi: 1 củ, đập giập

4- Nghệ vàng: 1 củ nhỏ đập giập

5- vỏ quả măng cụt: 1 quả

6- măng tây 40g

7- lá chùm ngây 40g

8- Bột tam thất 3 muỗng cà phê

9- Sữa đậu nành 1 cốc 

10- Gạo lức 1 nắm nhỏ,

11- vừng: 2 muỗng cafe 

12- Bách Hoa Xà  60g

13- quả sung khô 60 gam, 

14- Bán Liên Chi 30g

15- chó đẻ răng cưa 30 g

16- cây lược vàng 40g

17- táo tàu ướp đường 2 quả 

18- Đinh lăng (rễ) : 15g

19- Linh chi : 15g

20- Xạ đen : 12g

21- quả ké (đập dập) 1 quả

22- hương thảo : 12g (thế bằng hoa ngũ sắc)

23- bồ công anh 12g 

24- cây khôi 15g 

25- địa long 20g

26- Cây huyết dụ : 10g 

27- kim ngân hoa 10g 

28- cúc hoa : 10g

29- cam thảo dây 10 g

Bài thuốc có hơi phức tạp, đã được dùng chữa trị thành công cho hai bệnh nhân, một ở Nam Định và một ở Daklak.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, (Vũ Kim), 20/8/2015.

POLYP PHỔI TĂNG SINH THÀNH KHỐI U ĐƯỜNG HÔ HẤP

Xét nghiệm: đa polyp cuống phổi và phổi, đỉnh một (vài) polyp phát triển thành khối u.

Nguyên nhân: nhiễm độc hô hấp (cấp tính và mạn tính), đặc biệt trên họng, khí quản và phổi.

Hình thái nhiễm độc(*): bụi lơ lửng trong không khí và khí nóng (khói không màu) chứa các hóa chất công nghiệp benzen, hydrat carbone, cyanhydric và kim loại nặng.

Bài thuốc: 

Xạ đen 50g, bán liên chi 20g, bạch hoa xà 40g. 

Bông/lá mã đề, bồ công anh, lá bần ổi, cỏ mực, cây lá mặt trời, cây lá vẩy ốc, cây lá cỏ xước, cây lá lưỡi rắn, mỗi vị 25g.

Gia giảm: Cam thảo 5g, muối ăn 1/2 muỗng cafe, đường 1 muỗng cafe, mật ong vừa đủ.

Cách dùng: 8 thang hấp chín, xay nghiền làm thành sirop. Uống ngày 3 muỗng canh sau mỗi bữa ăn trong 22 ngày.

Công dụng: Bài thuốc này trị dứt điểm polyp và khối u phổi (trên nền tảng tiêu diệt Polyp), lấy xạ đen và bông mã đề làm Quân vị, đã được dùng nhiều tại VNBLOOD.

Chúc bà con lành bệnh, dồi dào sức khỏe, trở lại với cuộc sống đời thường để phụng sự gia đình, giúp ích cho xã hội.

(*) Các nhà máy nhiệt điện (và cả nhà máy thép) ở VN hiện nay, xưng là dùng công nghệ hiện đại của Trung Quốc, nhưng thật ra là công nghệ “hàng thải” của Âu Châu từ giữa thế kỷ XX (và đã bị Âu Châu chế tài, đặc biệt là Đức cấm dùng từ 30 năm nay).

Vì công nghệ cổ lỗ sĩ này, dù dùng nhiên liệu than khí hóa hay khí đồng hành không qua xử lý, đều tạo ra độc chất cực kỳ nguy hiểm. Độc hại của nhiệt điện chạy than thì khá nhiều tài liệu, ở đây không nói nữa. Riêng về khí đồng hành khi được tách khỏi dầu thô, đó là hỗn hợp chủ yếu gồm etan (C2H6), propan (C3H8), butan (C4H10) và pentan (C5H12), cùng với nước, sulfua hiđrô (H2S), Carbonic (CO2), Helium (He), Nitro (N2) và một số tạp chất khác. Sau khi được đốt cao nhiệt, cao áp làm động năng quay turbine thì chúng thải ra khí nóng (khói không màu) mang những chất độc hại có tác dụng tiêu diệt đối với sinh cơ của nhân loại như đã nói ở các comment trước.

Mong là bài thuốc này góp phần chữa trị và giảm thiểu các nguy cơ đó cho bà con. 

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 27/6/2017.

SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

Tĩnh mạch: là các mạch máu làm ống dẫn đưa máu nghèo ôxy của cơ thể trở về tim.

Có 3 loại tĩnh mạch ở các chi:

(i) tĩnh mạch nông nằm trong da và dưới da,

(ii) tĩnh mạch sâu nằm trong các nhóm cơ, 

(iii) tĩnh mạch xuyên kết nối hai loại trên.

Máu ở chân trở về tim chủ yếu qua đường các tĩnh mạch sâu. Bình thường máu tĩnh mạch trở về tim nhờ có: 

(i) Lực đẩy từ đông mạch, lực hút do tim co bóp; 

(ii) Áp lực âm trong lòng ngực hút máu về tim; 

(iii) Sự co bóp của các khối cơ cẳng chân (“bơm cơ”), ép vào các tĩnh mạch sâu và đẩy máu đi về tim; và (iv) Hệ thống van trong lòng tĩnh mạch, giữ không cho máu trào ngược dòng.

Khi có trục trặc hệ thống van một chiều của tĩnh mạch (bị suy), sẽ xuất hiện dòng máu trào ngược dẫn đến tình trạng ứ trệ máu trong lòng tĩnh mạch và làm tăng áp lực tĩnh mạch ở cẳng chân, lâu dần dẫn đến tình trạng suy tĩnh mạch mạn tính. Nhiều trường hợp chúng tạo ra huyết khối.

– Huyết khối tĩnh mạch nông hiếm khi gây biến chứng, không nguy hiểm đến tính mạng, tuy vậy cần thăm khám cẩn thận để loại trừ huyết khối tĩnh mạch sâu phối hợp.

– Huyết khối tĩnh mạch sâu đôi khi có thể bong ra và đi lên phổi, gây thuyên tắc động mạch phổi với tỷ lệ tử vong rất cao.

NGUYÊN NHÂN SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

– Thói quen đứng hay ngồi lâu gây ứ trệ máu và tăng áp lực tĩnh mạch của chi dưới.

– Huyết khối tĩnh mạch sâu ngăn cản dòng máu trở về tim.

– Viêm tĩnh mạch với hình thành huyết khối trong các tĩnh mạch sâu hoặc nông.

– Khiếm khuyết van do bẩm sinh.

– Nhiều yếu tố khác: nữ giới, sinh đẻ nhiều, béo phì hay quá cân, táo bón kinh niên, di truyền, nội tiết, sử dụng thuốc ngừa thai, môi trường làm việc nóng và ẩm, lười thể dục, hút thuốc lá, tuổi trên 50…

TRIỆU CHỨNG SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

Các triệu chứng và dấu hiệu sớm của bệnh bao gồm:

– Bệnh nhân có cảm giác bó chặt ở bắp chân, nặng chân, mỏi chân, mất ngủ. Có khi thấy tê, kiến bò vùng bàn chân.

– Vọp bẻ (chuột rút) ở bắp chân, thường xảy ra về đêm.

– Sưng phù xung quanh hai mắt cá, thấy rõ vào buổi tối.

– Các triệu chứng thường nặng lên về chiều tối, hoặc sau khi đứng lâu, sau một ngày làm việc, và giảm bớt vào buổi sáng khi ngủ dậy, hoặc sau khi nghỉ ngơi, kê chân cao.

DƯỢC PHÁP

Về dược pháp, sử dụng các bài thuốc tăng cường thành mạch, giảm sức căng nội mạch + cải thiện tình trạng nhược cơ. Bài thuốc cụ thể là bài “Thập Tứ Anh Hào trị suy van tĩnh mạch” với 2 hình thức sử dụng cùng lúc dưới đây:

1/. Dược liệu: Tỏi ta 10g, Đương quy 20g, Xích thược 20g, Hồng hoa 15g, Đào nhân 16g, Xuyên khung 15g, Sinh địa 15g, Thục địa 10g, Hoàng kỳ 12g, Hòe hoa 20g, Đan sâm 20g, Hạt dẻ ngựa (cao) 5g, Cúc vạn thọ (bông, tách Quercetagetin) 5g hoặc cúc vạn thọ (bông và lá) 20g, Ớt (tách Capsaicin) 10g hoặc ớt 4 trái.

Cách làm:

a/. Thuốc uống: 

– 11 vị đầu sắc 2 chén rưỡi còn nửa chén, 3 nước như nhau trộn đều chia làm 3 phần uống trong ngày.

– Cho 3 vị sau vào khi uống.

b/. Thuốc bôt hãm uống như trà.

– 11 vị đầu sấy khô, xay bột.

– 3 vị sau bỏ vào trộn đều.

– Khi dùng, lấy 1 muỗng cafe bột hãm nước sôi trong 1 ly vừa, uống như trà ngày 3 lần.

2/. Công dụng: giảm trương lực thành tĩnh mạch, gây co mạch, giảm kích thước tĩnh mạch, đánh tan huyết khối, kháng viêm, chống phù nề.

3/. Dược trình 25 thang.

Để hỗ trợ trị liệu, cần phụ dụng các bài thuốc tăng cường thể trạng, trị nhược cơ.

Thân ái. 

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 12/2/2017.