LƯỢC SỬ CỔ ĐẠI VIỆT NAM – Phần 3

Phần III : QUỐC GIA ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT, và
HIẾN PHÁP ĐẦU TIÊN CỦA NHÂN LOẠI

Năm 1221 TCN, đoàn người Âu (甌), còn gọi là Tây Âu (西甌) thuộc chủng Arriane trên đại bình nguyên lưỡng hà Ấn – Hằng từ phía Tây Trung Hoa tràn vào đất Lĩnh Nam của cư dân Bách Việt. Họ nhập vào các nhóm Bách Việt và dần dần trở thành một bộ phận của Bách Việt và càng ngày càng xa rời phong tục tập quán của lưu vực Ấn – Hằng, nên được gọi là Âu Việt (甌越). Họ cao lớn, có năng lực thể chất và thể trạng hơn hẳn các nhóm dân Bách Việt khác, ưu thế trong chiến đấu và xây dựng của họ nhanh chóng được khẳng định và trở thành một đầu tàu, một ngòi nổ mạnh trong cuộc chiến không ngừng giành quyền sống của cộng đồng bách Việt trong thời mông muội của lịch sử.

Khi đoàn người Bách Việt tràn xuống phương Nam tìm đất sống thì đại bộ phận Âu Việt lang thang qua các vùng đất lửa Trung Hoa, Tây Á; một bộ phận của họ đi đến cả phần đất Âu Châu hiện nay. Họ dần dà quay lại đất Lĩnh Nam, theo chân đoàn di dân cơ học Bách Việt về đất Giao Châu và quần cư với người Lạc Việt trên dải đất lưu vực sông Hồng phì nhiêu màu mỡ.

Năm 227 TCN, thủ lĩnh Tây Âu mượn tiếng họ Thục để giành lấy quyền làm chủ phương Nam và lập ra Vương Quốc Âu Lạc đầu tiên trong lịch sử Giao Châu.

Trích dẫn:
Cho tới đầu công nguyên thời Hai Bà Trưng, người Việt vẫn chưa có họ. Do đó họ Thụccủa An Dương Vương là một nghi vấn. Nước Thục (ở Tứ Xuyên ngày nay) mất năm 316 TCN. Chống Tần thất bại, con cháu họ chạy xuống phía bắc nước Văn Lang, sống với người Âu Việt. Sau một thời gian đứng vững, thủ lĩnh Âu Việt thôn tính Lạc Việt. Không hẳn thủ lĩnh Âu Việt đã là dòng dõi nước Thục cũ mà có thể chỉ là con cháu của tướng lĩnh, quan lại cũ của Thục, xưng làm họ Thục để thu phục nhân tâm vùng Âu Việt.
Bộ sử lâu đời nhất và gần thời An Dương Vương nhất là Sử ký Tư Mã Thiên chỉ nhắc tới nước Âu Lạc mà không nhắc tới An Dương Vương họ Thục.

Không còn nghi ngờ gì nữa, chính An Dương Vương mới là người xây dựng nên cường quốc Âu Lạc , 227 TCN. Một cuộc giao hoà rất đẹp giữa hai nguồn GEN : Lạc Việt có ưu thế khéo léo và khả năng ngôn ngữ cộng với Âu Việt có tính trạng tuyệt vời, hiếu chiến và giàu tính phấn đầu (*)

HIẾN PHÁP ĐẦU TIÊN CỦA NHÂN LOẠI

Thế giới công nhiên thừa nhận Hiến Chương Octavius – Hoàng Đế La Mã – công bố khoảng năm 240 là hiến pháp đầu tiên của nhân loại.
Cần chú ý rằng Chiếu “Lịch Dân Lập Quốc” của An Dương Vương nhằm khẳng định vương quyền Âu Lạc công bố trước Hiến Chương Octavius gần 500 năm (chính xác là 467 năm) mới là Hiến Pháp đầu tiên của Nhân Loại. Niềm tự hào của người Việt là từ niềm kiêu hãnh Âu Lạc chứ không phải là Con Rồng Cháu Tiên gì gì đó đầy ảo ảnh. Tiếc là vào thời đó (227 TCN), người Việt chưa có chữ viết, chưa có cả chữ Nôm nên Hiến Pháp đầu tiên của người Việt và Nhân loại phải viết bằng chữ Hán cổ, trúc trắc và đầy dị bản.

==================================

(*) Từ nguyên nhân này mà trong cộng đồng người Việt, thậm chí trong một gia đình, thường có 2 nhóm tính trạng khá tương phản thể hiện 2 nhóm GEN : chị (anh) cao lớn kiểu Âu và em (trai, gái) đậm người kiểu Lạc. 
Ví dụ : Hai chị em Thuý Kiều – Thuý Vân được Nguyễn Du diễn tả rất tinh tế các xu thế tính trạng :
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
…….
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Phân tích ngữ nghĩa cho thấy Vân đẹp kiểu đầy đặn, sung mãn kiểu Lạc, còn Kiều thì lại cao gầy, ẻo lả kiểu Âu, như dáng vẻ cái đẹp hiện đại…
*** Xin khẳng định lại một lần nữa là ở đây chỉ có vấn đề GEN trội, GEN lặn trong một dân tộc Việt Nam thống nhất và duy nhất chứ không có bất cứ vấn đề chủng tộc hay sắc tộc nào khác. Mọi luận điệu khác đi là hoàn toàn sai lạc với lịch sử thật sự đáng tự hào của Dân Tộc Việt Nam.

===========================

TRẢ LỜI NHANH

1/. Nhắc lại cho rõ : Thục Phán không phải là tên thật của An Dương Vương. Nói khác đi thì :
Trích dẫn:
Năm 227 TCN, thủ lĩnh Âu Lạc mượn tiếng họ Thục để giành lấy quyền làm chủ phương Nam và lập ra Vương Quốc Âu Lạc

Khi đoàn Bách Việt xuôi xuống phương Nam, có cả binh tướng Âu Việt, thì :
Trích dẫn:
đại bộ phận Âu Việt lang thang qua các vùng đất lửa Trung Hoa. Họ dần dà quay lại đất Lĩnh Nam, theo chân đoàn di dân cơ học Bách Việt về đất Giao Châu và quần cư với người Lạc Việt…

Khi đến Tứ Xuyên, tàn binh nhóm con cháu nhà Thục chống Tần thất bại nhập vào với họ (Âu Việt) và dần dà về lại đất Lĩnh Nam, sống cùng người Lạc Việt. Người Âu Việt do đó học hỏi được phương thức tổ chức nhà nước phong kiến của người Thục.
Thủ Lĩnh của người Âu Lạc là Bạch Mạo Tướng Quân (Tướng Mặt Trắng, không phải là họ tên) mượn danh nhà Thục, lấy chiêu bài “chân mệnh đế vương” để qui tụ lòng dân cả hai nhóm Âu Việt và Lạc Việt mà lập ra Vương Quốc chính danh Âu Lạc. vào năm 227 TCN. Đây là nhà nước (phong kiến) đầu tiên của người Việt. ( Thục Khoán – tức Thục Phán – nghĩa là “được nhà Thục giao cho” mà chúng ta vẫn tưởng lầm là tên họ, thực chất là đòn chính trị tuyệt vời của Bạch Mạo Tuớng Quân).
2/. Lòng dân hướng về cuộc kết hợp tuyệt vời của hai tộc Bách Việt đó , được phản ánh bằng huyền sử Thần Kim Quy trao nỏ thần cho An Dương Vương (*) . Công cuộc dựng nước và giữ nước thành công do được cả đất trời, nhân dân và thần thánh hỗ trợ, nói lên rằng người dân Việt đã thấy được tính “danh chính ngôn thuận, hợp lòng trời đẹp lòng người” của vương quốc thần thánh Âu Lạc.
3/. Niềm tự hào chính đáng nhất, sự nghiệp đáng tôn trọng nhất, lịch sử hiện thực nhất của cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới trong và ngoài Tổ Quốc phải là Âu Lạc uy nghi kỳ vĩ.
Trước Âu Lạc khổng lồ, hiến chương Octavius chỉ là chú bé con mà thôi….

================================

(*) “Đại Tý Vương” (vua tay lớn) là một thần cơ (người có biệt tài chế tạo) , đã chế tạo đồng cơ (lẫy nỏ bằng đồng) làm cho cung nỏ bình thường trở nên bắn được nhiều phát liên tiếp với tốc độ nhanh.
Người mang công nghệ chế tạo Liên Châu Nỗ (nỏ bắn liên tục) trao cho An Dương Vương để vị vua tài đức của đất nước Âu Lạc tranh hùng với thiên hạ, dựng thành Cổ Loa và giữ nước thành công trước các cuộc xâm lăng và nội chiến do các tộc Việt bất mãn chưa qui thuận (huyền sử hoá thành ác điểu và các loài ma quỉ). Do công đức lớn lao mà Người được thánh hoá thành một trong các thượng đẳng tối linh thần của người Việt : Thần Kim Quy.
Tất cả bí mật nằm trong cái lẫy nỏ hình…. móng rùa. Sự thánh hoá thành thần Kim Quy không phải là không căn cứ.
Bản vẽ và phương pháp tác chiến của Liên Châu Nỗ đã được Dr. Kim viết trong một sưu khảo Khoa Học Quân Sự (1999) trên “Humanese History Reseach” (Đức) và các phân tích kèm theo cho thấy Liên Châu Nỗ là một khí tài quân sự hạng nhất trong thời kỳ đó, và kéo dài nhiều trăm năm sau. Cụm từ “Nhất động bách tiễn” (một cử động bắn ra trăm mũi tên) không phải là nói ngoa hay thần thánh nào cả : Đó là trận địa Liên Châu Nỗ điều động dưới đại hồng kỳ. Một cú phất của lá cờ lệnh là hàng trăm mũi tên Âu Lạc – Kim Quy bắn ra, biến địch nhân thành hình con nhím.
Quả là vũ khí đáng kinh sợ của người Âu Lạc làm cho họ có thể hùng cứ phương Nam….

=======================================

TỒNG KẾT

1/. An Dương Vương là người Việt mượn danh nhà Thục chứ không phải là người Trung Hoa.
Tương âm đồng vị giữa Ph và Kh có rất nhiều tiền lệ. Như Kh ai và Ph á, Kh ôi và Ph ục,Kh ương tuyến và Ph ương tiến. Do đó mà từ “khoan đã” trong ngôn ngữ Nam Bộ vẫn nhiều người người nói thành “phang đã”.
Thục Khoán và Thục Phán là nội suy lịch sử như vậy.
2/. Người Tây Âu đã đồng hoá hoàn toàn vào Bách Việt để trở thành Âu Việt, là người Việt đúng nghĩa trong một dân tộc Việt Nam vĩ đại không thể chia cắt. Do nhận thức sai lầm mà rất nhiều sử gia VN vẫn cho rằng An Dương Vương là người Trung Hoa, do đó mà vẫn né tránh nội dung và thế đứng hùng vĩ của văn minh Âu Lạc. Ngay cả Nguyễn Trãi mà còn sai lầm đến mức liệt Triệu Đà – Nam Việt của người Hán vào tiền triều Việt Sử … (*)
Có thể nào không có lý do lịch sử mà dòng họ Nguyễn Trãi phải nhận lãnh án tru di tam tộc ? Nhận định lịch sử sai lầm có phải là một trong những lý do đó hay không ?
3/. Quan hệ chính trị thời Lạc Việt không hề có ý nghĩa Quốc gia và chỉ là quan hệ cát cứ kiểu lãnh chúa mà không có tổ chức nhà nước. Lạc Vương thời Lạc Việt chỉ có ý nghĩa tượng trưng, thực chất đó là một lãnh chúa Lạc Việt có uy tín nhất (mà không phải là mạnh nhất), dàn hoà được các mối mâu thuẫn giữa các lãnh chúa, được tôn vinh như một biểu tượng tinh thần. Chỉ duy nhất Âu Lạc là quốc gia đầu tiên của người Việt.
4/. An Dương Vương học được kinh nghiệm tổ chức Nhà nước phong kiến từ người Thục nên tổ chức thành công một nhà nước Âu Lạc. Nhận thức được quan niệm “chân mạng đế vương” và lợi dụng nó để dựng một tổ quốc Âu Lạc chính danh, là công trạng to lớn nhất trong lịch sử VN.
5/. Văn minh Cổ Đại Việt Nam là văn minh Âu Lạc chứ không phải văn minh Lạc Việt như các sử liệu phổ thông vẫn nói.

=============================

Chú thích:
(*) Triệu Đà : Năm 210 tr.CN, Tần Thuỷ Hoàng chết, con là Tần Nhị Thế lên thay, đế chế Tần suy yếu dần. Những quận mới lập được ở phía Nam Trung Quốc, trên thực tế, thoát dần khỏi sự quản lý và kiểm soát của chính quyền nhà Tần. Lợi dụng cơ hội đó, Nhâm Ngao và Triệu Đà chiếm Nam Hải, xây dựng một Vương quốc riêng, chống lại nhà Tần.

Nhâm Ngao chết, Triệu Đà thay thế đã thực hiện mưu đồ cát cứ.

Triệu Đà người Hán, quê ở Hà Bắc-Trung Quốc. Sau khi Nhâm Ngao chết, Triệu Đà làm chủ Nam Hải, diệt các quan lại của nhà Tần để thay bằng những người thân cận.

Năm 206 tr.CN, nhà Tần đổ, Triệu Đà liền tiến quân đánh chiếm các quận Quế Lâm, Tượng Quận thành lập nước Nam Việt, tự xưng là Nam Việt Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung. Từ đó, nước Nam Việt của nhà Triệu chính thức ra đời.

Trong cuộc xâm lược đại quy mô của nhà Tần vào những năm 218-208 tr.CN, Triệu Đà đã từng có ý đồ thực hiện chính sách Hán hoá triệt để người Việt ở những vùng chúng đã chiếm. Y đã từng xin vua Tần Thuỷ Hoàng cho đưa 3 vạn đàn bà con gái không chồng xuống để “may vá áo quần” cho quân sĩ xây dựng cơ sở lâu dài. Y còn khuyến khích các tướng lĩnh, quan lại, quân lính người Hán lấy vợ người Việt, thúc đẩy quá trình Hán hoá ở đây.

Nước Nam Việt của Triệu Đà thực chất là nhà nước cát cứ của một tập đoàn tướng lĩnh, quan lại Hán tộc, không phải là nhà nước của người Việt. Nước Nam Việt của nhà Triệu gồm có 3 quận: Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận, là một nước mạnh, có đất đai rộng lớn (bao gồm vùng Quảng Đông, Quảng Tây- một phần Quý Châu ở phía Nam Trung Quốc), kinh tế trù phú, giao thông thuận lợi, lại nằm sát với nước Âu Lạc về phía Bắc nên có điều kiện xâm lược Âu Lạc. 
(theo:http://www.quehuong.org.vn/…/nr0505261019…/%20ns050526091345)
Cần chú ý rằng cuộc xâm lăng thành công bắt đầu bằng chiến tranh gián điệp của Triệu Đà đối với Âu Lạc đã mở đầu cho thời kỳ Bắc thuộc ngàn năm cay đắng của người Việt…
… quân Triệu đã nhiều lần tiến quân xâm lược Âu Lạc; có lần đã tiến xuống xâm phạm vùng Tiên Du (Bắc Ninh), Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh), sông Bình Giang (sông Đuống). Nhiều trận chiến đấu lớn, ác liệt đã diễn ra ở vùng Tiên Du và vùng phụ cận Cổ Loa. Nhưng bấy giờ, Âu Lạc là một quốc gia hùng mạnh, có Liên Châu Nỗ lợi hại thần kỳ, có thành Cổ Loa kiên cố, dưới sự lãnh đạo của An Dương Vương và các tướng, nội bộ đoàn kết, nhân dân ủng hộ và quyết tâm chiến đấu đã đánh bại quân Triệu, bảo vệ độc lập, tự chủ.

Sau nhiều lần xâm lược vũ trang thất bại, Triệu Đà thay đổi thủ đoạn xâm lược, thực hiện mưu kế xảo quyệt, xin giảng hoà với Âu Lạc, cầu hôn Công chúa Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thuỷ và xin cho Trọng Thuỷ được ở rể, để có cơ hội điều tra tình hình bố phòng và các bí mật quân sự của kinh thành Cổ Loa và nước Âu Lạc (mà chủ yếu là bí mật Liên Châu Nỗ.) Sống trên đất Cổ Loa, Trọng Thuỷ đã dùng tiền của mua chuộc các lạc hầu, lạc tướng, li gián nội bộ chính quyền Âu Lạc nhằm làm suy yếu khối đoàn kết, giảm ý chí chiến đấu và tinh thần cảnh giác của An Dương Vương.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Trọng Thuỷ xin An Dương Vương cho về thăm nhà, nhằm báo cáo kết quả do thám. Nắm chắc tình hình, Triệu Đà liền tổ chức cuộc tấn công xâm lược Âu Lạc, bất ngờ đánh thẳng vào Kinh đô Cổ Loa. An Dương Vương mất cảnh giác, bị động đối phó trong lúc nội bộ đã bị li gián. Cuộc kháng chiến thất bại nhanh chóng.
Năm 179 tr.CN, người Việt rơi vào ách đô hộ của nhà Triệu; mở đầu một thời kỳ đen tối, đầy đau thương và uất hận trong lịch sử nước ta, thường được gọi là thời Bắc thuộc, kéo dài từ 179 tr.CN đến năm 905
Cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ thắng lợi, lật đổ nền đô hộ của đế chế Đường, giành lại quyền độc lập, tự chủ của nhân dân ta, thời Bắc thuộc mới chấm dứt hoàn toàn.

Vũ Kim 
06 / 6 / 2015

LƯỢC SỬ CỔ ĐẠI VIỆT NAM – Phần 4

Phần IV : NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN

Sau thất bại của An Dương Vương (179 TCN), nhân dân Âu Lạc bị mất nước và bị chìm đắm trong đêm trường nô lệ vì bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Triệu Đà dùng mọi cách để xóa bỏ văn hóa Việt, Hán hóa mọi phong tục tập quán và nhân chủng Việt, nhưng người Việt đã rất cảnh giác và quật cường, lần lượt vượt qua các mưu đồ ấy.

Theo Tiền Hán thư, số đồ cống của Triệu Đà gửi dâng Hán Vũ Đế gồm có: một đôi ngọc bích trắng 1.000 con chim thuý (chim bói cá lông đẹp), 10 sừng tê 500 viên ngọc bối tía, một lọ quế đố (cà cuống), 40 đôi chim thuý sống, hai đôi chim công. . . Các đồ cống đó là do nhà Triệu vơ vét được ở Âu Lạc. Ngoài ra, dân Âu Lạc còn phải cung đốn lương thực cho bọn quan lại và binh lính nhà Triệu đóng trên lãnh thổ Âu Lạc và tham gia sửa đắp thành luỹ, xây dựng nhà cửa cho bọn quan lại đô hộ ở các trung tâm cai trị. Sự áp bức, bóc lột đó càng thúc đẩy chiến tranh khởi nghĩa giành quyền tự chủ của người Việt.

1/. Khởi nghĩa Tây Vu Vương (năm 111 TCN) :
Đây là cuộc nổi dậy đầu tiên của nhân dân ta chống Bắc thuộc mà sử cũ còn ghi lại. Đó là cuộc khởi nghĩa của một bộ phận người Âu Lạc, dưới quyền lãnh đạo của một dòng họ quý tộc Âu Lạc nhằm khôi phục lại quyền độc lập cho đất nước.

Bấy giờ, quân Hán đánh chiếm Phiên Nhung, hạ đô thành Nam Việt (Quảng châu), nội bộ Nam Việt bị phân hoá chia rẽ, bọn quan lại Nam Việt nhiều người đầu hàng nhà Hán. Chớp thời cơ đó, Tây Vu Vương (thủ lĩnh Tây Vu – Cổ Loa) đã thống suất dân chúng nổi dậy khởi nghĩa chống bọn sứ giả nhà Triệu. Cuộc khởi nghĩa tuy bị thất bại, Tây Vu Vương bị giết, nhưng nó đã mở ra một trang sử mới về tinh thần chống đô hộ của nhân dân ta.

2/. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 – 43) :
Từ khi nhà Hán đặt ách thống trị lên miền đất Âu Lạc, mức độ bóc lột và đồng hoá của bè lũ quan lại ngoại bang càng trở lên khốc liệt. Phong trào chống đô hộ của nhân dân ta trong buổi đầu công nguyên đã nổi dậy mà đỉnh cao nhất, chói lọi ngàn thu là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở đất Lĩnh Nam.

Cuộc nổi dậy oanh liệt ấy là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử thế giới cổ đại, nó như một tia lửa nhen lên tinh thần yêu nước Việt Nam, tinh thần vùng lên khởi nghĩa, coi độc lập dân tộc là cái quý giá nhất: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và sáu mươi lăm thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng. . . “ (Lê Văn Hưu).

Hai Bà Trưng cùng quân đội của mình đã phải tiến hành cuộc kháng chiến chống lại cuộc tiến công xâm lược tàn bạo của nhà Đông Hán trong suốt ba năm liền cho đến khi thất bại, hi sinh trên dòng sông Hát.

3/. Các cuộc khởi nghĩa tiếp nối :
Hết thế kỷ này sang thế kỷ khác, phong trào khởi nghĩa giành độc lập tự chủ của nhân dân ta diễn ra sôi sục, mãnh liệt với hàng chục cuộc khởi nghĩa lớn, nhỏ bùng nổ trên khắp các địa phương. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Chu Đạt ở các quận Cửu Chân và Nhật Nam những năm 157-160; của Lương Long ở nhiều quận, huyện từ Giao Chỉ cho tới Nhật Nam những năm 178- 181 ; của Bà Triệu ở Cửu Chân rồi lan rộng ra Giao Chỉ năm 248, khiến “Cả Giao châu đều chấn động”; khởi nghĩa của Lý Trường Nhân, Lý Thúc Hiến với việc giành lại được quyền tự chủ trong một thời gian (468-485).

Bước sang thế kỷ VI, phong trào giải phóng của nhân dân ta chuyển lên giai đoạn phát triển mới mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa thành công dưới sự lãnh đạo của Lý Bí (542-543) đưa đến việc thành lập nhà nước Vạn Xuân (544). Nhà nước Vạn Xuân vừa được thiết lập, chỉ được hưởng thái bình trong hơn một năm thì đã bị quân Lương tiến công xâm lược. Nhân dân Vạn Xuân dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế và Triệu Quang Phục đã anh dũng tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ giữ nước. Trải qua sáu năm kháng chiến, quân, dân Vạn Xuân chiến đấu anh dũng, kiên cường và giành được thắng lợi.

Từ thế kỷ VII, dưới ách cai trị bạo ngược của phong kiến nhà Tuỳ, rồi sau đó là của bọn phong kiến nhà Đường, các tầng lớp nhân dân, thế hệ nọ nối tiếp thế hệ kia, liên tục vùng lên đánh giặc. Cuộc khởi nghĩa này bị dìm trong máu lửa thì cuộc khởi nghĩa khác lại dâng lên.

Điều đáng lưu ý nhất là các cuộc nổi dậy đó chủ yếu không phải là nổi dậy của dân cày chống bọn điền chủ vì sưu cao thuế nặng, mà chủ yếu là nổi dậy của dân tộc Việt Nam chống đô hộ, giành độc lập tự chủ.

Ách đô hộ nhà Đường thường bị rung chuyển bởi những đòn công phá của phong trào cứu nước của nhân dân ta, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến năm 687, của Mai Thúc Loan năm 722, của Phùng Hưng những năm 766-779 và của Dương Thanh những năm 819-820. Trong số những cuộc nổi dậy mạnh mẽ đó cũng có những cuộc khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh giải phóng, như khởi nghĩa Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế).

Từ căn cứ Vạn An (Nghệ An), nghĩa quân Mai Thúc Loan đã liên kết với nhiều lực lượng chống nhà Đường, tiến ra bắc, tiến công phủ thành Tống Bình. Bè lũ đô hộ Quang Sở Khách, trước khí thế ngút trời của cuộc chiến tranh giải phóng của người Việt đã bỏ thành, chạy tháo thân về nước.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa không duy trì được lâu bởi ngay sau đó vua Đường đã cử danh tướng Dương Tư Húc dẫn 10 vạn quân sang đàn áp. Tuy vậy, cuộc khởi nghĩa với hình thức đấu tranh mạnh mẽ, rộng lớn đó đã cổ vũ nhân dân ta tiếp tục đứng lên đánh đuổi quân xâm lược.

4/. Khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ (905 – 908)
Đầu thế kỷ X, xuất hiện một hình thức khởi nghĩa mới của Khúc Thừa Dụ. Bấy giờ, triều đình nhà Đường ở Trường An và chính quyền đô hộ ở miền đất nước ta suy yếu; cuộc đấu tranh đòi độc lập của nhân dân ta lan rộng và dâng cao, bọn quan lại đô hộ bất lực. Khúc Thừa Dụ, hào trưởng có uy tín ở Hồng châu nhân thời thế, tổ chức quân sĩ, thu phục lòng người và khi thời cơ đến đã lãnh đạo nhân dân đứng lên chống bọn đô hộ, giành được chính quyền rồi tự xưng là tiết độ sứ.

Nhà Đường buộc phải chấp thuận sự việc đã rồi, công nhận Khúc Thừa Dụ là Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, đại diện của triều đình Trường An tại An Nam. Về danh nghĩa thì như vậy, nhưng thực chất họ Khúc đã xây dựng một chính quyền tự chủ. Tuy chính quyền vẫn còn mang danh hiệu của nhà Đường, nhưng về thực chất, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ, về cơ bản kết thúc ách thống trị hơn 1.000 năm của phong kiến phương Bắc. Lịch sử ghi nhận công lao của ông như là người đầu tiên đặt cơ sở lấy lại nền độc lập dân tộc

Cánh ứng xử của họ Khúc quả là độc đáo mở đầu cho một truyền thống khôn khéo, mềm mỏng trong thế ứng xử đối ngoại với phong kiến phương Bắc, nhằm đạt mục đích là giành và giữ nền độc lập dân tộc. Ở cạnh kề một nước lớn, từ sớm tổ tiên ta đã tỏ ra biết ứng xử linh hoạt để tồn tại và phát triển. Nhún nhường không phải lúc nào cũng biểu hiện yếu kém. Nhân nhượng để tránh tổn thất vô ích mà lại đạt mục tiêu. Độc lập tự chủ là mục tiêu lớn nhất của cả dân tộc ta thời đó.

Chính quyền tự chủ của họ Khúc được xây dựng năm 905 và tồn tại trong 26 năm thì các năm 931 và 938, nhà Nam Hán liên tục hai lần đưa quân xâm lược.

5/. Triều đại Ngô Quyền (939 – 944) :
Ngô Quyền (898 – 944), còn được biết đến với tên gọi Tiền Ngô Vương, là vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. Năm 938, ông là người lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng hiển hách, chính thức kết thúc hơn một thiên niên kỉ Bắc thuộc, mở ra một thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam. Sau chiến thắng này, ông lên ngôi vua, trị vì từ năm 939 đến năm 944.

6/. Nhà Đinh (968 – 979) :
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, Đại Việt sử ký toàn thư chép sự kiện: “Bầy tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế” và “Vua mở nước, lập đô (tại Hoa Lư), đổi xưng Hoàng đế”. Đinh Tiên Hoàng là người xưng hoàng đế đầu tiên ở Việt Nam.
Nhận xét về Đinh Tiên Hoàng đế, sử gia Lê Văn Hưu cho rằng có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà sinh bậc thánh triết, Lê Tung cho rằng vua chính thống của nước Việt ta, thực bắt đầu từ đấy.

7/. NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN
Trong cái ngạo thế hào hùng của đất Việt giờ đây đã hùng cứ một phương, sánh ngang vai cùng kẻ địch truyền đời phương Bắc, nhân dân Việt đã hào hứng dựng chùa NHẤT TRỤ với nghĩa NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN (một cột chống trời / chỉ thiên quốc – kẻ đại địch phương Bắc) tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình ngày nay). Ngôi chùa Nhất Trụ mà con gái vua Đinh Tiên Hoàng tu hành, có một cây cột đá cao, tám cạnh, khắc bài kinh Lăng Nghiêm, đề niên hiệu thời Lê Hoàn (981–1005)

Kiến trúc chùa một cột này là hình thái kiến trúc thuần Việt hết sức độc đáo, chưa từng có bất cứ đâu trên đất Trung Hoa, nêu rõ cái khí thế ngạo nghễ của một dân tộc sẵn sàng đương đầu, không e sợ bất cứ thế lực ngoại bang nào xâm lấn, một bản sắc đủ sức trường tồn, không bị đồng hóa và không lẫn vào văn hóa Trung Hoa. Điều đó được minh chứng trong lịch sử nghìn năm kéo dài đến ngày nay.

Vũ Kim. 07 / 6 / 2015
(có tham khảo vnmilitaryhistory, Wikipedia và vietnam.vnanet)
(Xem tiếp : PHẦN V : Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại).