TUỔI DẬY THÌ (Kỳ 1)

Dậy thì là giai đoạn cơ thể và cảm xúc của bé phát triển nhanh chóng, báo hiệu sắp đến tuổi trưởng thành. Suốt giai đoạn này, cơ thể tăng trưởng nhanh, sản sinh hoóc-môn chuẩn bị cho quá trình sản dục. Điều đó không có nghĩa là có thể làm cha, làm mẹ, mà dậy thì chỉ là biểu hiện không còn là trẻ con nhưng chưa là người lớn, dẫn đến một cảm giác bồn chồn, trông mong xen lẫn buồn rầu.

Nhân loại bắt đầu dậy thì ở độ tuổi 8-16 và ngày càng sớm hơn. Nghiên cứu của ĐH Sydney, Aus 11/2016 ghi nhận phát dục dậy thì không cá biệt bắt đầu từ 5-8 tuổi. Nguyên nhân dậy thì ngày càng sớm đến từ việc sử dụng hóa chất, thậm chi hoóc môn hóa học, chất kích thich tăng trưởng ồ ạt vô tội vạ trong trồng trọt, chăn nuôi.

1/. DIỄN BIẾN SINH LÝ

Bắt đầu dậy thì, thay đổi thấy rõ nhất là cơ thể phát triển nhanh, nhưng không phải các bộ phận cơ thể phát triển đồng bộ. Ngoài ra, còn có một số thay đổi khác.

– Dậy thì nam: Cơ quan sinh dục phát triển; xuất hiện lông nách, lông mu và lông mặt; giọng nói thay đổi; dương vật cương cứng ngoài ý muốn và xuất tinh ban đêm.

– Dậy thì nữ: Ngực phát triển, xuất hiện lông nách, lông mu; kinh nguyệt; vết rạn trên da; mụn và dị ứng; các “giấc mơ ẩm ướt”.

– Ở cả hai phái: đều có mùi cơ thể do mồ hôi và vi khuẩn gây ra.

Tất cả những biến đổi sinh lý này đều có thể được giải quyết ở VNBLOOD.

2/. DIỄN BIẾN TÂM LÝ 

– Hoóc-môn gia tăng làm cho hình thể thay đổi, hoóc-môn cũng ảnh hưởng đến cảm xúc, dễ có tâm trạng thay đổi thất thường.

– Một số bé rất tự ti, cảm tưởng như ai cũng đang quan sát và đánh giá mình, thấy khó chịu và ngượng ngùng, cảm tưởng là mình hơi bất thường. 

– Bé có cái nhìn hoàn toàn mới về người khác phái, một số bé lại cảm thấy thích người đồng giới. Đừng vội cho rằng bé là người đồng tính, những cảm xúc ấy từ từ biến mất trong hầu hết trường hợp.

– Con gái bước vào tuổi dậy thì, cha mẹ thường bị đẩy ra ngoài cuộc sống của chúng; các mối quan hệ bạn bè và vài thứ khác dường như quan trọng và tốn nhiều thời gian hơn.

– Cáu gắt, bẳn tính, đuổi theo suy nghĩ riêng tư, khước từ và có ý thoát ly sự chăm sóc của cha mẹ, thậm chí tranh cãi gay gắt.

– Bắt đầu có những rung động đầu đời, thậm chí yêu sớm. Rình rập cạnh việc yêu sớm là những mối nguy về quan hệ tình dục trước hôn nhân, ảnh hưởng đến việc học hành và đặc biệt là việc có thai ngoài ý muốn.

3/. KHẢ NĂNG VÀ ĐIỀU KIỆN TIẾP CẬN tuổi dậy thì của cha mẹ đối với con cái

– Xã hội đang phát triển tạo ra nhiều điều kiện để cha mẹ tiếp cận và hòa đồng với con cái hơn.

– Cha mẹ ngày càng có văn hóa, tư duy và tầm vóc tư tưởng lớn hơn, có thể tự học tập, lắng nghe và thấu hiểu con cái hơn thuận lợi cho mối dây ràng buộc gia đình bền chặt, tốt đẹp hơn.

– Tư liệu, sách báo về tuổi dậy thì đầy rẫy trên sách in, báo mạng. Việc trẻ và cha mẹ cùng tiếp cận bí ẩn của tuổi mới lớn ngày càng dễ dàng hơn, cha mẹ hiểu con hơn và con cái hiểu chính mình hơn, hiểu cha mẹ hơn.

4/. HƯỚNG TÁC ĐỘNG HIỆU QUẢ đến con cái ở tuổi dậy thì

– Hướng thượng: lựa chọn các câu danh ngôn, lời hay ý đẹp về cuộc sống, tình yêu, cách ứng xử, cách làm tăng giá trị bản thân… đóng khung treo khắp nhà. Mỗi lần cần nhắn nhủ điều gì với con, thì chọn một câu chuyện hay, xúc động khuyến khích con đọc. Đừng phàn nàn về con và cả nhà cũng không nên đả động gì đến những thay đổi bất thường của bé vì sẽ rất chóng qua.

– Hướng đến tư duy cộng đồng, mỗi dịp cuối tuần, nên duy trì một buổi đi câu, đi bơi hoặc đi xem phim với nhau. Thấy cả nhà ăn uống, nói chuyện vui vẻ, bé sẽ tham gia hào hứng lúc nào không biết.

– Cảm thông và rộng mở giữa cha mẹ và con cái, dạy chúng tỏ lộ cảm xúc, tâm sự với cha mẹ “như người lớn với nhau”. Đơn giản là công bằng, trao đổi thẳng thắn và hỏi ý kiến của cô gái dậy thì khi muốn thay đổi bất cứ thứ gì trong nhà. Làm bạn với bé và cả với bạn của chúng là cách tốt nhất để cha mẹ hòa vào tư duy con cái. Trò chuyện với trẻ đủ sớm : nói về kinh nguyệt hoặc những giấc mơ ướt sau khi trẻ đã trải qua nghĩa là đã quá muộn. Trả lời cho các bé các câu hỏi về cơ thể, chẳng hạn như sự khác biệt giữa các bé trai và gái và trẻ sơ sinh đến từ đâu. Nhưng không nên cung cấp quá nhiều thông tin, chỉ trả lời câu hỏi của chúng. Nếu bạn không biết câu trả lời, hãy giúp con bạn tìm câu trả lời từ một ai đó, như một người bạn hoặc bác sĩ tin cậy.

– Yêu đương : Cha mẹ thường quên mất đời sống tình cảm thời niên thiếu của chính mình, cứ suy từ mình hiện tại để dạy con nên nhiều khi không thể hiểu nổi con, chứ chưa nói đến có thể dạy dỗ, uốn nắn được chúng. Tình yêu của tuổi vị thành niên thường thoáng qua, nông nổi, mù quáng, là yêu kiểu lãng mạn, không dựa trên cơ sở nào.

Tình yêu đó không khác dòng nước chảy, càng ngăn chặn lại càng ào ạt dâng lên, cần phải xem cảm xúc yêu đương là phát triển tự nhiên bản năng tính dục của con người.

– Cảnh báo về những nguy hiểm xung quanh con.

Bảo vệ con gái dường như là một bản năng của người cha. Thực tình mà nói, người cha thế nào đi nữa, các cô con gái vẫn luôn trông đợi cảm giác an toàn từ người cha. Đó không phải chỉ là cảm tính, mà con gái luôn có thiên hướng hướng về cha như người bảo vệ mình. Hãy mạnh mẽ, trân trọng sự có mặt của con trong cuộc sống này đồng thời đảm bảo một cách chắc chắn rằng con gái biết ba của nó yêu nó thế nào.

– Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản: Những kiến thức tối thiểu về giáo dục giới tính không thể chỉ trông đợi ở nhà trường mà chính người mẹ phải nói cho con biết. Nếu lảng tránh vì cho đó là chuyện khó nói hoặc không nên nói, tức là đã thả nổi việc tìm hiểu về những kiến thức đó cho con, để chúng tự đi tìm qua sách báo, tranh ảnh khiêu dâm hay những người lớn không đáng tin cậy.

(Còn tiếp)

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 5/2/2017.

BẠCH CẦU CAO và UNG THƯ MÁU

1/. Nhận thức bệnh học

Cần nhận thức rõ rằng KHÔNG CÓ BỆNH BẠCH CẦU CAO. 

– Công thức máu của người bình thường gồm 3 yếu tố chính là bạch cầu, hồng cầu và tiểu cầu. 

– Nếu vì một nguyên nhân nào đó mà hồng cầu và tiểu cầu bị hủy hoại nhanh (mà chủ yếu là hủy hoại hồng cầu) thì tỷ lệ bạch cầu trong máu cao lên. Ví dụ như có áp – xe hoặc ổ viêm tiềm ẩn nào đó, như viêm khớp do thấp, viêm gan, viêm thận – mật, các ổ viêm nội thể khác thậm chí viêm xương và tủy xương … khó (hoặc chưa) phát hiện được. 

Đặc biệt khi tuyến ức bị tổn thương sẽ gây tăng sinh bạch cầu và bạch cầu dị dạng với các triệu chứng tương tự ung thư máu.

– Bạch cầu tăng sinh nhằm thực hiện nhiệm vụ đề kháng cho cơ thể đối với các tác nhân gây bệnh, đặc biệt là với nhiễm trùng, kể cả nhiễm ký sinh trùng. Do đó mà số lượng (và tỷ lệ) bạch cầu tăng cao trong công thức máu.

– Số lượng (và tỷ lệ) bạch cầu sẽ trở về mức bình thường khi cơ thể hết bị viêm nhiễm

2/. Bạch cầu trong công thức máu

– Bạch cầu gồm các loại như: đa nhân trung tính (1.700 – 7.000 trong 1 mm3), đa nhân ái toan (50 – 500 trong 1 mm3), đa nhân ái kiềm (10 – 50 trong 1 mm3), mono bào (100 – 1.000 trong 1 mm3), bạch cầu lympho (1.000 – 4.000 trong 1 mm3).

– Số lượng bạch cầu trong một đơn vị máu được kí hiệu là WBC (white blood cell). Một người bình thường thì giá trị của WBC trung bình là khoảng 7.000 bạch cầu/mm3 máu (dao động từ 4.000 – 10.000 bạch cầu/mm3)

3/. Trường hợp đặc biệt

– Ung thư máu là bệnh mà tỷ lệ bạch cầu tăng bất thường, người mệt mỏi và nhợt nhạt, ốm yếu, hay buồn ngủ, phải thường xuyên nghỉ hoặc ngồi, khó thực hiện các sinh hoạt bình thường, dễ bị chảy máu hoặc bầm (tím); đau buốt trong xương do tủy xương phì đại vì bạo phát và dồn nén bạch cầu, nhanh chóng bị hủy hoại sức sống v.v…. Trường hợp cấp tính thì bệnh nhân có thể bị sưng gan hoặc lá lách dẫn đến đau bụng hoặc cảm giác đầy bụng dưới xương sườn. Một số bệnh nhân bị nôn hoặc buồn nôn do sưng gan hoặc lá lách, thiếu máu (hồng cầu) trầm trọng và khả năng tử vong cao (và rất cao).

– UNG THƯ MÁU, còn gọi là bệnh máu trắng, các tế bào bạch cầu phát triển không bình thường và cơ thể đã sản sinh một số lượng lớn các tế bào máu trắng chưa trưởng thành làm tắc nghẽn tủy xương. Tây Y chưa có đúc kết chính xác nguyên nhân của ung thư máu nhưng đa phần các trường hợp là do người bệnh từng tiếp xúc hoặc sống trong nền bức xạ năng lượng cao, thâm nhiễm điện từ lâu dài hoặc nhiểm các chất độc có chứa một nhóm kim loại nặng, kim loại hiếm, đất hiếm v.v… làm tăng nguy cơ biến dị bạch cầu (cuối cùng là ung thư máu). Ngoài ra, ung thư máu còn có yếu tố di truyền. 

Cho đến hiện nay, chưa có một ca bệnh ung thư máu nào được chữa khỏi bằng Tây Y.

4/. Giải pháp Y Dược Học Lượng Tử

a/. Dược pháp chủ đạo với triệu chứng bạch cầu cao là:

– Nhanh chóng phát hiện ổ viêm và tiêu diệt các ổ viêm trong thời gian ngắn nhất. Có thể phối hợp với thuốc chống Ung thư (máu) nhằm đề phòng nguyên nhân từ bệnh máu trắng

– Tăng hồng cầu kết hợp chống tan máu (vỡ hồng cầu) + tăng thể trạng (nếu thể trạng suy giảm nhanh). 

b/. Với bệnh máu trắng (ung thư máu):

Ngoài các biện pháp cấp thời như đối với triệu chứng bạch cầu cao, bệnh nhân ung thư máu (và Thlassemia) cần được chữa trị tấn công chủ đích bằng:

– Sử dụng thuốc chống ung thư (và chống di căn) ở liều cao nhất mà cơ thể có thể chịu đựng được.

– Bệnh nhân nhỏ tuổi cần hỗ trợ thải độc, bào vệ gan – thận -mật và các cơ quan nội tạng khác, nếu bệnh nhân quá 45 tuổi thì phải kết hợp chống suy giảm tâm – phế mãn.

– Bảo vệ xương bằng Calci sinh học, giải phù tích cực nhằm giải phóng trương lực tủy xương để giảm các cơn đau nhức buốt trong xương, bảo vệ thành mạch để chống nội xuất huyết và xuất huyết dưới da.

Việc sử dụng Y Dược Học Lượng Tử đã giúp chữa trị thành công khá nhiều ca từ bạch cầu cao đến ung thư máu ở Công Ty Wambua Bình Dương và Wambua Hà Nội.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 25/11/2018.

NIỆM XỨ ĐAN ĐIỀN

Đan điền liên quan đến một loat những vấn đề và khái niệm bí ẩn của Võ học và Y học của Nội Gia Công phu (Kungfunara Drahmadurskti), được sáng tạo và phát biểu từ Amitabha cách đây khoảng 12.000 năm. Cần thâm liễm các định kiến dưới đây:

1/. Huyệt và Pháp Thân: 

– Huyệt là điểm vô hình chứa công năng hữu hình. Huyệt có khả năng tàng trữ nội năng (trong nó) và chuyển hóa nội năng (qua nó), huyệt cũng có khả năng di chuyển. Có huyệt nội thân (trên cơ thể) và huyệt ngoại thân (ngoài cơ thể).

– Pháp Thân: tổng hòa của không gian nội thân và ngoại thân là Pháp Thân. 

“Không hiểu Pháp Thân, không quán chiếu Pháp Thân, và không trụ nơi Pháp Thân thì không có Đại Thừa, thậm chí còn rơi lọt vào Tà Giáo, Ma Đạo” (trích diendanphatphaponline dot com).

2/. Nội năng: là công năng hữu hình của năng lực tự thân, được huân tập trong quá trình tu luyện Kungfunara. (Đạo gia Trung Quốc hay dùng từ nội công để diễn tả một phần của nội năng, vừa thiếu sót vừa sai căn bản).

Nôi năng bao gồm Chân Điển, Chân Khí, Chân Hỏa. Trong đó:

– Chân Điển được hiểu là sự liên kết tối cao của thân – tâm, mà mọi vận động trong pháp thân được quán xuyến với đơn vị tính sát na (đơn vị thời gian nhỏ nhất có thể trực nghiệm). 

– Chân Khí là năng lực vượt qua chướng ngại của ngoại giới (chế thắng thiên nhiên và con người) và nội giới (chế thắng dục lạc, khổ đau và lợi ích tầm thường), có thể thu phát tùy căn cơ tu tập theo những mục tiêu cụ thể. 

– Chân Hỏa là bước thăng hoa của chân khí, trở thành ngọn lửa soi sáng nẻo u mê trần tục, thiêu đốt tan tành mọi dục vọng trần ai và khổ đau nhân giới. Nội năng càng lớn thì Pháp Thân càng mở rộng. 

– Chân Như: Khi đạt đến TAM HOA TỤ ĐỈNH (là tột đỉnh của Chân Điển, Chân Khí, Chân Hỏa) thì mọi thứ tiêu tan, thăng hóa thành CHÂN NHƯ, là thể Pháp Thân vô sinh vô diệt, vô cùng vô tận, là vượt khỏi sinh tử luân hồi.

3/. Kinh, Mạch, Lạc: Là các mối tương quan của nội năng trong pháp thân. 

– Kinh lạc là đường mà nội năng vận hành trong cơ thể, đường chính của nó gọi là KINH, nhánh của nó gọi là LẠC, kinh với lạc liên kết đan xen ngang dọc, liên thông trên dưới trong ngoài, là cái lưới liên lạc toàn pháp thân. 

– Kinh lạc phân ra hai loại kinh mạch và lạc mạch. 

* Kinh mạch gồm chính kinh và kỳ kinh, 

* Chính kinh có mười hai sợi, tả hữu đối xứng, tức thủ túc tam âm kinh và thủ túc tam dương kinh, gọi chung mười hai kinh mạch, mỗi kinh thuộc một tạng hoặc một phủ. 

* Kỳ kinh có tám sợi, tức đốc mạch, nhâm mạch, xung mạch, đái (đới) mạch), âm duy mạch, dương duy mạch, âm kiểu mạch, dương kiểu mạch. 

* Thông thường nhắc đến mười hai kinh mạch và thêm vào hai mạch nhâm đốc, gọi chung là mười bốn kinh mạch chính. 

– Lạc thì rất phong phú vì là các nhánh rất cụ thể của 14 kinh mạch, nó thường xuyên chuyển vận, có đến 128 lạc và là một hệ thống chưa nền Y – Võ – Đạo học nào ngoài Kungfu chạm tới.

4/. Lục Phủ và Thất Tạng: 

– Phủ là các bộ phận của cơ thể có nhiệm vụ thu nạp, tiêu hoá, hấp thụ, chuyển vận các chất từ đồ ăn uống và bài tiết các chất cặn bã của cơ thể ra ngoài. Có lục phủ: đởm, vị, tiểu trường, đại trường, bàng quang và tam tiêu. 

– Tạng là các cụm chức năng của cơ thể có nhiệm vụ chuyển hoá và tàng trữ tinh, khí, thần, huyết, tân, dịch. Có thất tạng là Tâm tạng, Can tạng, Tỳ tạng, Phế tạng, Thận tạng, Nhãn tạng, Bì tạng. 

– Các trường phái Đạo gia Trung Quốc chỉ biết đến ngũ tạng Tâm – Can – Tỳ – Phế – Thận mà thôi.

5/. Đan Điền : được hiểu là nơi tàng trữ nội năng quan trọng nhất của một thời kỳ (cấp độ) luyện tập Kungfunara. Nội hàm của từ đan (đỏ) điền (ruộng) là nơi gieo trồng và thu liễm nội năng.

– Thượng Đan Điền 

Cấp độ I luyện tập chân Điển, khả năng điều khiển và quán xuyến pháp thân được đặt lên trên hết, nên đan điền ở đáy khe trung tâm của đại não gần tuyến Tùng. Cự ly tiếp cận gần nhất là huyệt Bách Hội trên đỉnh đầu và huyệt Ấn Đường giữa hai chân mày nên Kungfunara lấy Thượng Đan Điền là huyệt Bách Hội (khác với Đạo gia TQ dùng Ấn Đường).

– Trung Đan Điền

Cấp độ II luyện tập Chân Khí, lấy việc nâng cao năng lực làm chủ đạo, Đan Điền đặt ở huyệt Cưu Vỹ (nằm ở đỉnh xương ức giống như đuôi con chim ban cưu nên gọi là Cưu vĩ huyệt) vào sâu 8 Cm, gọi là Trung Đan Điền. Cưu Vỹ là huyệt thứ 15 của mạch Nhâm, và huyệt lạc nối với mạch Đốc. Đạo gia TQ dùng huyệt Đản Trung gần đó làm trung đan điền, không có ưu thế liên lạc Nhâm – Đốc như Đan Điền Cưu Vỹ của Kungfunara.

– Hạ Đan Điền

Cấp độ III luyện tập Chân Hỏa, lấy mục tiêu diệt dục, kiệm ái, vong sinh nên đan điền nằm ở Đan Điền Khí Hải, thực chất nằm khoảng giữa của huyệt Khí Hải (dưới rốn 4 Cm) và huyệt Mệnh Môn (khớp xương sống L7-8, nằm giữa 2 huyệt thận du), gọi là Hạ Đan Điền. Bản thân Mệnh Môn trong Âm có Dương, tức là Chân Dương – Mệnh Môn Hoả (theo Hải Thượng y tông tâm lĩnh/Y hải cầu Nguyên).

Nói tóm lại Đan Điền ở đâu là tùy theo mục đích, cứu cánh và cấp độ tu trì luyện tập của người chuyên luyện pháp môn Kungfunara, điều chỉnh và điều khiển Kinh – Huyệt – Lạc – Mạch – Lục phủ – Thất tạng, đúng với các pháp chuyển vận nội năng Chân Điển, Chân Khí, Chân Hỏa trong Pháp Thân theo một trình tự khắt khe. 

Do đó mà Đan Điền không chỉ là tồn tại mà còn là niệm xứ.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 2/2/2017.

SUY THẬN VÀ TĂNG CREATINE

Một số trường hợp chữa suy thận, các chỉ tiêu xét nghiệm rất khả quan gần như bình thường. Nhưng chỉ tiêu creatine lại tăng (hoặc không chịu giảm). 

– Creatine thường gắn liền với việc suy giảm chức năng lọc của thận, nhưng tăng creatine máu KHÔNG CHỈ do thận suy mà còn do tai biến ở hệ cơ – xương, tuyến Giáp trạng, tuyến tụy và gan (tăng tiết creatine), khẩu phần ăn uống và thói quen sinh hoạt. Ngoài ra, một số thuốc Tây Y chữa bệnh suy thận cũng gây tăng creatine. Ví dụ thuốc ức chế ACE và cyclosporine, thuốc ibuprofen, thuốc bổ sung vanadi v.v…

– Creatine được tạo ra ở gan và tuyến tụy, tuy nhiên 95% chất này được lưu trữ trong cơ xương. Nguyên nhân chính của sự tăng creatine là sự tổn thương/suy yếu/phân rã một số nhóm cơ quan trọng hay nội tạng, Các vận động viên tập cường độ cao thường phải nạp thêm creatine để tránh tổn thương cơ/rã cơ/nhược cơ, phục hồi cơ và tăng kích thước các nhóm cơ vận động..

– Về huyết học thì creatine là một chất thải có trong máu, trong điều kiện bình thường thì thận có thể lọc và loại bỏ nó ra khỏi cơ thể. Tuy nhiên, chức năng lọc của thận giảm thì lượng creatinine tích lũy dần trong cơ thể. 

– Có nhiều cách làm giảm creatinine, bao gồm * thay đổi chế độ ăn, * điều chỉnh thói quen sinh hoạt và * dùng dược pháp điều trị.

PHÁN ĐOÁN CÁC NGUYÊN NHÂN TRỰC TIẾP TĂNG CREATINE 

Cần chẩn đoán thấu đáo các nguyên nhân trực tiếp gây tăng creatine, bao gồm :  

1/. Suy thận hay tổn thương thận, hoặc chữa trị suy thận không thành công, phản ánh qua mức lọc cầu thận (là lưu lượng chất lỏng được lọc qua thận). 

2/. Hoại tử cơ bắp: khám kỹ các cơ bắp có khả năng hoại tử, tế bào bị phân rã từ các mô cơ này đi vào máu. 

3/. Khẩu phần nhiều thịt: Chế độ ăn có nhiều thịt nấu chín làm tăng creatinine : giảm thực phẩm protid, chuyển sang ăn hoàn toàn ngũ cốc và rau củ trong thời gian điều trị 

4/. Bệnh tuyến giáp: Suy giảm chức năng tuyến giáp cũng ảnh hưởng tới chức năng thận, làm giảm khả năng lọc chất thải của thận gây tăng creatine. 

5/. Lười uống nước: thiếu nước gây giảm tiểu tiện, thực sự làm tăng creatinine 

6/. Cần giảm đường huyết + giảm vận động + ngủ đủ giấc để giảm creatine. 

 DƯỢC PHÁP KÉO GIẢM CREATINE – 

– Giải độc ; Đường huyết ; Huyết áp ; Suy thận ; (giảm) Creatine. Mỗi thứ 100g. Uống ngày 4 lần / lần 30 đến 35 viên.

– Khuyến cáo BN uống nhiều nước trà xanh loãng : Trà xanh 10g + Cam thảo 5g + Rễ tranh 1g. Nấu sôi vừa với 2,5 đến 3 lít nước trong 30 ph. Uống trong ngày. Khuyên nên dùng nước trà xanh này uống thuốc viên thì tốt nhất, kết hợp ngủ nghỉ tốt trong thời gian chữa trị.

CHÚ Ý GIA GIẢM DƯỢC PHÁP

Như đã phân tích ở trên, chú ý gia giảm dược pháp :

• Nếu có cơ tổn thương suy thoái, hoại tử v.v… thì gia thêm thuốc viêm hay (và) nhược cơ.

• Nếu có thay đổi kích thước hoặc có hạch ở tuyến Giáp thì gia thêm thuốc Giáp trạng.

• Nếu tiểu ít + phù thì gia thêm Giải phù và Dị ứng. Thậm chí hỗ trợ lợi tiểu nếu cần thiết.

THUỐC GIẢM CREATINE 

1/. Dược liệu : 

– Thân + lá cây tầm ma 50g

– Rễ Bồ công anh. 40g 

– Đan sâm 30g 

– Thân + lá tía tô 40g (đã tách tinh dầu) 

– Cam thảo 20g 

– Long Diên hương 3g

2/. Cách làm : 

– Tất cả có thể phơi khô hoặc dùng tươi. Nếu tất cả khô thì xay khô mịn –> vo viên 5 mm. 

– Khô và tươi : nghiền bột dược liệu khô. Dược liệu tươi hấp như ở dưới đây, vắt nước cốt để vo viên.  

– Tươi : Hấp nấu nhẹ lửa với 1/2 lít nước trong 2 giờ. Xay nghiền. Có thể gia thêm lượng hạn chế Ethanol để chống bám cối xay nghiền. vắt lấy nước cốt. Bã đem phơi + sấy khô, xay bột khô vo viên với nước cốt.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 13/6/2019.

VƯỚNG VÍU LƯỢNG TỬ

Phần I : Vướng víu lượng tử

Vướng víu lượng tử nói gọn là vướng lượng tử hay rối lượng tử (quantum entanglement), là một hiệu ứng được phát triển trong cơ học lượng tử, trong đó trạng thái lượng tử của hai hay nhiều vật thể có liên hệ với nhau, dù cho chúng có nằm cách xa nhau. Ví dụ trực quan nhất là hai electron đặt gần nhau có thể dao động cùng một trạng thái, theo thuyết lượng tử. Bây giờ nếu tách chúng ra xa nhau vài kilômet, ngay cả hàng ngàn năm ánh sáng, chúng vẫn sẽ tiếp tục giữ được mối liên kết dao động đồng bộ này.
Có nghĩa là, nếu hai (hoặc nhiều) hạt (hoặc vật thể) vướng víu lượng tử với nhau thì khi tác động vào một trong chúng (ví dụ thay đổi xung lượng, vị trì hay spin quay bằng điện từ chẳng hạn) thì hạt (hoặc nhiều hạt, vật thể) kia chuyển động đồng bộ NGAY TỨC KHẮC bất chấp khoảng cách không gian giữa chúng lớn đến đâu đi nữa. 
Với v = l / t trong đó v là vận tốc, l là khoảng cách giữa chúng và t là thời gian chuyển động đồng bộ thì tốc động lan truyền “vướng víu” nhanh hơn nhiều lần tốc độ ánh sáng có thể truyền giữa chúng. 
Điều này rõ ràng trái với tiên đề nổi tiếng “tốc độ ánh sáng là tốc độ tuyệt đối của mọi vật thể có năng lượng” trong thuyết tương đối (đúng ra phải gọi là thuyết Einstein). 
Vướng víu lượng tử thoát ly và phủ định trực giác của chúng ta về sự vận hành của thế giới, nó trở thành trung tâm của cuộc tranh luận lý thuyết gay gắt. Phát biểu vướng víu lượng tử của Cơ Học Lượng Tử làm cho Albert Einstein nổi sùng với một đồng nghiệp hồi năm 1948, cho rằng nếu thuyết lượng tử dự đoán như vậy trong các phương trình của mình, thì bản thân thuyết lượng tử là cái vô nghĩa. Einstein miệt thị vướng víu lượng tử là “những tác động ma quỷ từ xa”.

1/. Vướng Víu Lượng Tử Vi Mô :
Từ những năm 1970, một loạt rất nhiều thí nghiệm chính xác đã được thực hiện để minh chứng cho vướng víu lượng tử. Lượng Tử học thực nghiệm đề xuất rằng mọi hạt có thể bị “vướng” từ trước đó, và thậm chí chúng có thể tương tác dù nằm ở hai phía của vũ trụ.
Năm 1982, vật lý và toán học đã có thể chứng minh vướng víu lượng tử bằng toán học, đến năm 2015, thực nghiệm đầu tiên đã có thể khẳng định chắc chắn điều này, công bố trên Tạp chí Nature. Nhóm các nhà khoa học thực hiện thành công thí nghiệm này được dẫn dắt bởi Ronald Hanson, Viện khoa học Nano Kavli thuộc Đại học Hà Lan và rất nhiều cộng sự đến từ Tây Ban Nha và Anh. Thí nghiệm mang tên “loophole-free Bell test” được tham chiếu dựa trên đề xuất của nhà vật lý John Stewart Bell vào năm 1964. Bell tin tưởng rằng đây là một phương pháp chứng minh vướng víu lượng tử có thật.
Theo lý thuyết, vướng víu lượng tử xảy ra khi một cặp hạt (nhiều hạt) vẫn còn tương quan vận động qua khoảng cách theo kiểu mà tác động thực hiện trên một hạt cũng có ảnh hưởng đến hạt (nhiều hạt) kia.
Khi hai hạt vướng víu được kiểm tra, tính chất vật lý của chúng có tương quan. Ví dụ, một spin quay theo chiều kim đồng hồ của hạt A sẽ bằng spin ngược chiều kim đồng hồ với hạt B, bởi một spin kết hợp zero. Tuy nhiên, khi đo một hạt riêng lẻ bị vướng víu có thể xảy ra như là một hành động độc lập, do đó sẽ ảnh hưởng đến các hạt khác – vì vậy ta không thể biết liệu hành động bình đẳng và tương ứng với hạt khác là kết quả của vướng víu lượng tử, hoặc là kết quả của phép đo.
Điều này có thể xảy ra với một cặp hạt đơn lập; nhưng vướng víu lượng tử cũng có thể xảy ra với một hạt duy nhất. Ví dụ, một đơn photon (quang tử), có thể được chia thành hai hạt mà vẫn được kết nối – kết nối đó được gọi là vướng víu lượng tử. Hàm sóng của hạt duy nhất trải rộng trên một khoảng cách lớn, nhưng các hạt riêng lẻ không thể được phát hiện tại nhiều hơn một lần đo, hàm sóng sụp đổ. 
Nhóm nghiên cứu tại Đại học Griffiths sử dụng máy dò homodyne – là, các công cụ có thể đo sóng và tính chất sóng – Giáo sư Howard Wiseman và nhóm của ông đã chứng minh rằng hàm sóng này sụp đổ là sự thực minh chứng cho vướng víu lượng tử. Họ đã khiến hai electron tương tác với nhau ở khoảng cách 1,3km, nghĩa là có tồn tại vướng víu lượng tử giữa chúng. Mặc dù chưa thể xác định chính xác ở khoảng cách xa hơn, nhưng đây thật sự đã là bằng chứng thuyết phục về sự tồn tại của hiện tượng này..

2/. Vướng Víu Lượng Tử Vĩ Mô :
Thí nghiệm của Maria Chekhova đầu năm 2016 về vướng viu lượng tử sử dụng chùm tia đến 100.000 photon và cũng kiểm nhận được vướng víu lượng tử giữa chúng, không chỉ giữa một cặp hạt. 
Việc tạo ra sự vướng víu giữa các hạt đòi hỏi chúng phải bắt đầu trong một trạng thái có trật tự cao, điều không phù hợp với nhiệt động lực học, quy trình này chi phối các tương tác giữa nhiệt và các hình thức năng lượng khác. Điều này đặt ra một thách thức đặc biệt lớn khi cố gắng để hiện thực hóa vướng víu lượng tử ở cấp vĩ mô giữa một số lượng lớn các hạt.
“Thế giới vĩ mô mà chúng ta đang sống thường có vẻ rất có trật tự, nhưng nó hoàn toàn rối loạn ở cấp nguyên tử. Các luật nhiệt động lực học thường ngăn chúng ta quan sát các hiện tượng lượng tử trong các vật thể vĩ mô”, Paul Klimov, nghiên cứu sinh tại Viện Kỹ thuật phân tử, Đại học Chicago và là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết. 
Trước đây, các nhà khoa học đã vượt qua những rào cản nhiệt động lực và đạt được sự vướng víu ở cấp vĩ mô trong chất rắn và chất lỏng ở nhiệt độ cực thấp (-270oC) và áp dụng từ trường rất lớn (lớn hơn 1000 lần một nam châm ủ lạnh điển hình) hoặc sử dụng các phản ứng hóa học. Mới đây (tháng 4 / 2016) trên tạp chí Science Advances, Klimov và các cộng sự tại Viện Kỹ thuật phân tử đã chứng minh rằng vướng víu lượng tử ở cấp vĩ mô có thể được tạo ra ở nhiệt độ phòng và trong một từ trường thấp.
Các nhà nghiên cứu sử dụng ánh sáng laser hồng ngoại để sắp hàng theo ưu tiên các trạng thái từ tính của hàng ngàn electron và hạt nhân và sau đó sử dụng các xung điện từ, tương tự như những xung được dùng cho chụp ảnh cộng hưởng từ thông thường, làm vướng víu chúng. Quy trình này làm cho các cặp electron và hạt nhân ở cấp vĩ mô có thể tích 40 micromet khối (bằng thể tích của một tế bào hồng cầu) của chất bán dẫn SiC trở nên vướng víu.
“Chúng tôi biết rằng các trạng thái spin của hạt nhân nguyên tử kết hợp với các khuyết tật của chất bán dẫn có các tính chất lượng tử tuyệt vời ở nhiệt độ phòng”, Awschalom, Giáo sư kỹ thuật phân tử tại Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne, nói. “Chúng là cố kết, tồn tại lâu dài và có thể kiểm soát bằng lượng tử ánh sáng và các thiết bị điện tử. Với những ‘mảnh’ lượng tử tạo ra các trạng thái lượng tử bị vướng víu vĩ mô có vẻ như là một mục tiêu có thể đạt được”.
Ngoài sự quan tâm của vật lý cơ bản, “khả năng để sử dụng các trạng thái vướng víu lượng tử mạnh mẽ trong một chất bán dẫn điện tử ở nhiệt độ phòng có ý nghĩa quan trọng đối với các thiết bị lượng tử..

Phần II : CƠ HỌC LƯỢNG TỬ

Cơ Học Lượng Tử là cái gì mà nghiên cứu, phát biểu, thậm chí thực nghiệm những thứ “lạ đời” như vậy ?
Cơ học lượng tử (Quantum Mechanic), cùng với những mở rộng của nó thành điện động lực học lượng tử và lí thuyết trường lượng tử, là lí thuyết khoa học thành công nhất trong mọi thời đai, với nhiều kết quả thực nghiệm sai số chưa tới một phần tỉ. Tuy nhiên, quan sát đến bản thể của nó thì Cơ học lượng tử bí ẩn hơn ma quỉ vậy – càng gắng tìm hiểu ý nghĩa của nó, nó càng có xu hướng vuột khỏi tầm tay. Cơ học lượng tử có đầy những nghịch lí, những đa thể khó dung hợp, và những “tác dụng ma quỷ”.

1., Vật lý cổ điển Newton
Vật lý cổ điển xem không gian là thể bất biến. Theo đó các biến động của các vật thể có năng lượng trong không gian lệ thuộc hoàn toàn vào chính cái không gian mà nó hiện hữu. Do đó mà Vật lý cổ điển bế tắc trong việc giải thích những biến đổi và vận động trong thế giới vi mô, nơi mà các vận động đó trở nên hỗn loạn, vượt ngoài các dự đoán, cơ học Newton không thể lý giải tại sao các nguyên tử lại có thể bền vững đến thế, cũng không thể giải thích được một số hiện tượng vĩ mô như siêu dẫn, siêu chảy. Không thể xác định vị trí (và xug lượng / động lượng) của một electron vì nó có thể ở bất cứ vị trí nào, hoặc … không ở đâu hết nếu sử dụng cơ học Newton, vì nó không hề có vị trí xác định. Vân đạo điện tử (đám mây điện tử) là khái niệm ra đời để mô tả sự vận động dị kỳ của electron, trong đó electron chuyển động trong một phạm vi, tạo thành một đám mây vật chất, và xác suất gặp nó chính là khái niệm khả kiến về vị trí của electron.
Với photon, một thực nghiệm với 2 khe sáng đưa vật lý cổ điển đến một bế tắc khác. Thực nghiệm vật lí cổ điển ẩn chứa nhiều điều hơn những gì chúng ta có thể nhận ra về bản chất của thực tại. Thí nghiệm hai khe cổ điển làm sáng tỏ sự lưỡng tính kì lạ của thế giới lượng tử, nhưng nó có thể hành xử lạ hơn chúng ta nghĩ – và có thể thách thức một trong những giả thuyết được tuân thủ chặt chẽ nhất của cơ học lượng tử. Trong thí nghiệm hai khe, người ta chiếu ánh sáng vào hai khe sát nhau đặt trước một màn hứng. Thế giới quan cổ điển có cảm nhận trực quan rằng ánh sáng phải đi qua khe này và (hoặc) khe kia, do đó tạo ra hai vệt sáng song song trên màn phía sau. Nhưng thay vì vậy, ánh sáng lại phân bố thành dải các vệt sáng tối xen kẽ và được Vật lý cổ điển chấp nhận là hiện tượng giao thoa nhưng không lý giải được bản chất của nó. Để tính xác suất một photon đi tới một vị trí nào đó trên màn hứng, các nhà vật lí sử dụng một nguyên lí gọi là quy tắc Born. Tuy nhiên, chẳng có lí do cơ bản nào tại sao quy tắc Born phải đúng. Nó có vẻ hoạt động trong mọi tình huống mà chúng ta đã kiểm tra, nhưng chẳng ai biết tại sao. Một số người đã cố gắng suy luận ra nó từ cách hiểu “đa thế giới” của cơ học lượng tử, theo đó thì mọi trạng thái khả dĩ của một hệ lượng tử có thể tồn tại trong những vũ trụ khác nhau, song song nhau – nhưng những nỗ lực như thế không có tính thuyết phục. 
Hình ảnh giao thoa này vẫn xuất hiện cho dù bạn lần lượt chiếu từng photon một, cho thấy thay vì truyền theo đường thẳng, ánh sáng hành xử LƯỠNG DUNG SÓNG – HẠT đồng thời. Theo Broglie thì đối với các hạt vi mô ngoài tính hạt còn có tính sóng, và đã thành công với việc mô tả hạt vi mô như là một sóng (tính thống kê của hàm sóng Broglie). Nhà vật lí người Mĩ Richard Feynman phát biểu rằng tính lưỡng dung SÓNG VÀ HẠT này tiêu biểu cho “bí ẩn trung tâm” của thế giới lượng tử, và trở thành 1 trong 4 phát triển cốt lõi của cơ học lượng tử. Việc giải thích thí nghiệm hai khe bằng khái niệm “sóng và hạt” thống nhất cơ học lượng tử với một trụ cột khác của vật lí lí thuyết – thuyết tương đối tổng quát của Einstein. Quach đề xuất một cách mới kiểm tra quy tắc Born trong thực nghiệm “hai khe”, xuất phát từ một quan điểm khác của phương pháp Feynman : để tính xác suất của một hạt đi tới một điểm nhất định trên màn, phải xét mọi đường đi có thể có của nó từ nguồn đến màn, kể cả những đường đi có vẻ lố bịch. “Trong số này bao gồm cả những đường đi từ đây lên mặt trăng rồi quay về”. Quach phát biểu. (arxiv.org/abs/1610.06401v1, theo Anil Ananthaswamy – New Scientist, ngày 5/11/2016).

2/. Cơ Học Lượng Tử :
Trong khi nhiều nhà vật lí, khoa học – công nghệ, thậm chí tôn giáo và triết học mất ăn mất ngủ tìm hiểu ý nghĩa của cơ học lượng tử, thì sự ra đời của vật lí học thông tin lượng tử (mật mã học lượng tử, điện toán lượng tử, vân vân…), Hóa học lượng tử, Động học lượng tử thậm chí Y học và Sinh học lượng tử lại mang đến cho họ nhiều đáp án căn bản về cơ học lượng tử. Cơ học lượng tử hoạt động bất chấp người ta có hiểu nó hay không, nhưng trực giác của chúng ta dường như rất yếu ớt khi quán sát những tình huống mang đến những phán đoán ngày càng lạ lùng của cơ học lượng tử dù nó có cơ sở toàn học , kỹ thuật học đầy đủ nhất mọi thời đại. Vì thế, các nỗ lực muốn làm sáng tỏ những nền tảng của cơ học lượng tử đã tăng lên đáng kể trong ba thập niên gần đây.
Vậy thì kết quả khảo sát nói trên cho chúng ta nhận thức nào về hiểu biết hiện nay của nhân loại về cơ học lượng tử? Chúng ta không có thời gian phân tích từng ngóc ngách của khảo sát trên, nhưng câu trả lời cho một vài câu hỏi trong số đó đáng để chúng ta lưu tâm. (Lưu ý rằng người ta được phép đưa ra nhiều hơn một câu trả lời, nên tỉ lệ phần trăm trong kết quả đó thỉnh thoảng không cộng lại bằng 100%. Để dễ hiểu, cần chuẩn hóa lại các kết quả để chúng bằng 100%, và trong một số trường hợp đã đơn giản hóa vấn đề để đỡ rối trí hơn trong tình trạng đa lựa chọn).
Trong cơ học lượng tử, hàm sóng của một đối tượng mô tả mọi tính chất có thể đo được của đối tượng đó (khả lượng). Nó là một mô tả hoàn chỉnh của cái gọi là trạng thái lượng tử của đối tượng đó. Hàm sóng bị chi phối bởi phương trình Schrödinger, phương trình cho biết hàm sóng thay đổi như thế nào theo các điều kiện bên ngoài. Tính đa nghiệm của phương trình Schrödinger đưa đến phát biểu nguyên lí chồng chất, nó không phải là một kết quả vật chất, mà là một tính chất của cấu trúc toán học cơ bản của cơ học lượng tử. Nghĩa là có tồn tại một họ hàm sóng, gọi là các CHỒNG CHẤT LƯỢNG TỬ, chúng đồng thời mô tả rất nhiều trạng thái lượng tử bội của một đối tượng cùng (tồn tại) với chính nó.

Tóm lại Cơ Học Lượng Tử xem một hạt là một vùng năng lượng tập trung biểu hiện thành vật chất khả kiến là một hạt (do đó là cả thế giới vật chất) tồn tại rời rạc với những vận động hoàn toàn có tính năng lượng (khối lượng, động lượng, cơ năng, tần số sóng v.v… với cấu trúc và tương tác cụ thể). Xét cho cùng, cơ học lượng tử là ngành Khoa học mô tả mọi hiện tượng có thể đo được và có khả năng lượng hóa mọi tồn tại, dù cho nó là vật chất, vật chất đen (vật chất tối), hố “ma”, hố đen, ma quỉ, thượng đế hay linh hồn (nếu thật sự tồn tại), ở một hay nhiều tầng vũ trụ trong mối tương quan giữa các dây vũ trụ.
Có nhiều phương pháp toán học mô tả cơ học lượng tử tương đương với nhau. Một trong những phương pháp được dùng nhiều nhất đó là lý thuyết biến đổi, do Paul Dirac phát minh ra nhằm thống nhất và khái quát hóa hai phương pháp toán học trước đó là cơ học ma trận (của Werner Heisenberg) và cơ học sóng (của Erwin Schrödinger).
Theo các phương pháp toán học mô tả cơ học lượng tử này thì trạng thái lượng tử của một hệ lượng tử sẽ cho thông tin về xác suất của các tính chất, hay còn gọi là các đại lượng quan sát (đôi khi gọi tắt là quan sát), có thể đo được. Các quan sát có thể là năng lượng, vị trí, động lượng (xung lượng), và mô men động lượng..
Cơ học Lượng Tử (mà cơ sở lý luận của nó là Lượng Tử học), có thể nói, là công cụ Khoa học mạnh nhất, cơ bản và trực quan nhất kể từ khi có nhân loại, để quan chiêm, nắm bắt và chiếm lĩnh thế giới.

PHẦN III : BẢN CHẤT CỦA VƯỚNG VÍU LƯỢNG TỬ

I/. CÁC CÁCH TIẾP CẬN BẢN CHẤT CỦA VƯỚNG VÍU LƯỢNG TỬ
Như đã biết, vũ trụ của chúng ta là đa tầng và đa hợp. 
1/. Trong đó đa tầng biểu diễn trạng thái cô đọng của năng lượng quy hợp thành tồn tại và được xem là một CHIỀU KHÔNG – THỜI GIAN tuân theo mô thức biến đổi của Paul Dirac (thống nhất và khái quát hóa hai phương pháp toán học : cơ học ma trận của Werner Heisenberg và cơ học sóng của Erwin Schrödinger), mặc dù nó chẳng phải là một chiều của cơ học Newton (ứng dụng toán học Euclide). Theo thuyết cấu tạo màng thì mọi chiều không – thời gian đều trải thành MÀNG, tập trung nghiên cứu hiện nay là lớp màng D (D-branes), trong đó màng D là một đa tạp của không – thời gian với các tính chất ở đó các dây có thể vừa là điểm đầu vừa là điểm cuối (xin xem thêm LÝ THUYẾT DÂY). Do đó một màng có thể chứa toàn bộ một vũ trụ.
2/. Đa hợp là cứ mỗi một chiều – màng có thể là một vũ trụ, sự “hợp tác” giữa các màng với nhau tạo ra vũ trụ khác, ở cấp độ khác và biểu hiện tồn tại khác nhau. Do đó mà có rất nhiều vũ trụ có cấu tạo “y chang” nhau, vận động như nhau thoát ly khái niệm thời gian (ngay tức khắc) dù cách nhau hàng nghìn tỷ năm ánh sáng. Đó chính là những vũ trụ song song nhau, nói khác đi, chúng VƯỚNG VÍU LƯỢNG TỬ với nhau. Lý thuyết dây của Cơ học Lượng tử mới chứng minh được 11 chiều không gian, trong vũ trụ của chúng ta hiện nay có 7 chiều suy biến (7 chiều này bị “cuộn” lại; Oskar Klein nói, có thể các chiều đã bị cuộn lại trong một khoảng cách rất nhỏ: một phần tỷ-ngàn tỷ-ngàn tỷ của một centimet), do đó ngoài khả năng đo đạc và nhận thức của nhân loại hiện nay. Matreja đã phát biểu về vũ trụ 36 chiều với 3000 thế giới từ 600 năm trước công nguyên.
Nếu điều này là đúng, sẽ phải có một loại hạt mới, gọi là hạt Kaluza-Klein. Đã có kế hoạch tạo ra chúng trong các máy gia tốc hạt bằng máy LHC của Âu Châu vào đầu năm tới 2017. Có thể chúng sẽ có các tính chất rất – rất đặc biệt, do vài mô-men nằm trong các chiều không gian ẩn.
3/. Như vậy để trực quan hóa thời gian, chúng ta sử dụng hình ảnh tấm Drap (ra) giường. Đặt lên tấm drap giường một hòn bi sắt thì nó làm tấm drap giường bị “lún” xuống, hòn bi càng nặng thì tấm drap càng bị lún sâu. Tương tự thì một tồn tại (ở đây dùng 1 hạt) với toàn bộ năng lượng của nó lập tức làm thời gian quanh nó “cong” đi (lún xuống trên “màng – thời gian). Nếu một hạt có khối lượng và nội năng tương đương mặt trời thì nó “lún sâu” trên tấm drap / màng – thời gian đến mức độ các mép của tấm drap / màng – thời gian túm lại. Nếu xét một vạch kẻ trên tấm Drap giường thì điểm đầu và điểm cuối gặp nhau. Nếu là drap / màng – thời gian thì thời điểm đầu cũng là thời điểm cuối : mọi vận động ở đó là NGAY TỨC KHẮC dù chúng nằm ở hai rìa vũ trụ.
4/. Nhưng hàm Lượng Tử Schrödinger không cho ra kết quả đơn giản và trực quan như vậy, mà tồn tại ở đó là CHỒNG CHẤT nhiều trạng thái lượng tử của các đối tượng tồn tại trong không – thời gian đó (do hàm Lượng Tử Schrödinger là một chùm hàm sóng đa nghiệm), nghĩa là có nhiều tồn tại chồng lên một vùng không gian. Lý do mà Klein và Kaluza đưa ra là khi “anh đại” thời gian bị co lại thì những chiều – màng không gian khác mặc sức tung hoành hỗn loạn, tạo ra vô số vũ trụ chồng chất trong vùng không gian đó. Khi thực hiện một phép đo lên một đối tượng, ta sẽ phá vỡ trạng thái chồng chất, buộc đối tượng phải chọn một trạng thái duy nhất. Sự chuyển đổi này gọi là “sự suy sụp của hàm sóng”
5/. Trở lại hình ảnh tấm drap giường, khi hòn bi sắt còn chưa quá nặng thì ở những điểm xung yếu của hòn bi tiếp xúc với tấm drap giường, nó tạo ra các nếp nhăn kéo dài hướng ra ngoài rìa tấm drap. Tương tự như vậy, trên màng – thời gian cũng xuất hiện những “nếp nhăn thời gian” từ hạt hướng ra rìa vũ trụ. Nếp nhăn này không nằm trên mặt phẳng của màng – thời gian nên nó thoát ly thời gian. Hạt nào nằm trên nếp nhăn đó, dù gần hay xa đều chỉ chịu sự tác động năng lượng (động lượng, đương lượng nhiệt, moment, spin v.v…) một cách tức thời của hạt đang đo lường (hình ảnh hòn bì sắt). Và như thế, vướng víu lượng tử được xác lập giữa chúng.

II/. BẢN CHẤT CỦA VƯỚNG VÍU LƯỢNG TỬ 
Phat biểu theo ngôn ngữ Cơ Học Lượng Tử, thì tổng năng lượng của một hạt tạo ra nhiều KHE THỜI GIAN phát xuất từ chất điểm của hạt đó, tổng năng lượng càng lớn thì khe thời gian càng dài trong vũ trụ đó (có thể đến hàng nghìn năm ánh sáng), xác lập các vướng víu lượng tử của rất nhiều hạt khác, với hạt “chủ” trên đường của rất nhiều khe thời gian. Do đó mà tồn tại vướng víu lượng tử ở cấp độ vĩ mô.
Trong vật thể, các hạt vẫn có vướng víu lượng tử với nhiều hạt khác gần và xa. Tuy nhiên do tương tác với các hạt nội nguyên tử, nguyên tử kế cận, các hạt trong nguyên tử kế cận, các lực hóa lượng tử, lực Vander-Wall, lực điện từ hạt nhân v.v… nên chúng khó vận động hoàn toàn theo mô thức vướng víu lượng tử. Tuy nhiên thực nghiệm Chekova cho thấy hàng chục vạn hạt vẫn vướng víu lượng tử được, nghĩa là khả năng vướng víu lượng tử cỡ lớn (như nột hòn bi, một chiếc ô tô hay ngay cả một thiên hà) trong CHÂN KHÔNG TĨNH LƯỢNG TỬ là hiện hữu. Nhất là đầu năm 2016, Ian Walmsley và các đồng sự tại trường Đại học Oxford đã làm vướng víu hai viên kim cương – mỗi viên chừng 3 mm. Họ bắt đầu bằng việc chiếu một xung laser “bơm” vào một bộ tách chùm tia, gửi nửa xung đến viên kim cương ở bên phải và nửa xung kia đến viên kim cương ở bên trái. Khi một photon trong xung sáng đi tới bộ tách chùm tia, cơ học lượng tử cho biết rằng nó được đưa vào một sự chồng chất của một photon đi sang trái và một photon đi sang phải. Nghĩa là hai viên kim cương (vật thể) đã vướng víu lượng tử với nhau ở nhiệt độ phòng. Vướng víu lượng tử cấp độ vật thể (vĩ mô) đã được xác lập.
Vướng víu lượng tử không phải là cái gì quá mới đối với nhân loại, mà nó được phát biểu từ cách đây 12.000 năm với nhân vật thượng cổ có tên là Amitabha, mà ông ta gọi là NHÂN DUYÊN. Kinh Amitabha chương Tiếp Dẫn có nói : “khi tiếp lập được nhân duyên thì trong ta có người, trong người có ta, nhận thức về nhau mọi thứ CẤP KỲ (ngay tức khắc) mà không màng khoảng cách dù cho hàng vạn dặm xa xôi”. Nhận thức hiện đại về lời giảng này, chính là sử dụng vướng víu lượng tử bằng năng lực cao thâm, trí tuệ diệu viễn để truyền thông tin lượng tử thoát ly khoảng cách không – thời gian.

III/. PHÁT TRIỂN MỚI : VIỄN TẢI LƯỢNG TỬ.
Từ những thành công của thực nghiệm vướng víu lượng tử, một hệ thống những ngành Khoa học – Kỹ thuật mới dựng ra một cơ sở lý luận – thực nghiệm có tính đột phá là VIỄN TẢI LƯỢNG TỬ (teleportation).
Viễn tải lượng tử là di chuyển vật thể hoặc thông tin về vật thể đi xa không giới hạn và ngay tức khắc (không mất thời gian) bằng phương thức vướng víu lượng tử (quantum entanglement). Thí nghiệm của Alain Aspect năm 1982 tại Paris, áp dụng bất đẳng thức của John Bell trong tính toán, đã chứng minh một cách thuyết phục rằng viễn tải lượng tử là có thật như mô tả dưới đây :

– Giả sử Alice ( A ) cần viễn tải trạng thái F của một hạt (gọi là hạt 1 ) cho bạn là Bob ( B)
– Trước hết A chế tạo một cặp Bell , hai hạt này EPR (EPR là vướng víu lượng tử) ví dụ ở trạng thái IF00>.
– Một hạt ( gọi là hạt 2 ) trong cặp Bell A giữ lại bên mình , còn hạt kia ( gọi là hạt 3 ) gửi cho B . Như vậy A và B đã sở hữu hai hạt vướng víu lượng tử 2 và 3. Đây là điểm mấu chốt của quá trình .
Trạng thái F có dạng : F = a I0>+bI1> .
– Trạng thái của hệ Bell hạt 1 (có trạng thái F) và hạt Bell 2 (mà A đang giữ ) được đưa vào đầu vào (input) của mạch là (in / đây là phép đo trong cơ sở Bell –in Bell basis):
IF0> = IF>IF00>
– Tiếp theo A đưa hai qubit 1 & 2 qua cổng CNOT, và IF0> biến thành IF1>.Sau đó đưa qubit 1 qua cổng Hadamard IF1> biến thành IF2> với kết quả là:
IF2> = I00>(aI1> + bI0>)
+ I01>(aI1> + bI0>)
+ I10>(aI0> – bI1>)
+ I11> (aI1> – bI0>)
– Nghĩa là Alice vừa phá hủy trạng thái F, thì những thay đổi này lập tức xuất hiện ở Bob vì Bob sở hữu hạt Bell 3 vướng víu lượng tử với hạt Bell 2.

Như vậy viễn tải lượng tử đã được xác lập vì thông tin trạng thái của hệ hạt 1, 2 đã được chuyển đồng nhất cho 4 trạng thái của các hệ – cặp hạt mà phủ định tham số thời gian. Đó là cơ sở toán học – lý luận trực quan của Vật lí học thông tin lượng tử (mật mã học lượng tử, điện toán lượng tử, vân vân…), ngành Khoa Học – Kỹ thuật – Thực nghiệm có điều kiện phát triển ứng dụng viễn tải lượng tử sớm nhất.

Việc sử dụng viễn tải lượng tử để di chuyển một hạt, một chùm hạt, một vật thể đến một tồn tại sinh học, một hệ tồn tại có qui mô tầm cỡ thiên hà đã được dự đoán toán học, do đó có thể là không bao lâu nữa, con người có thể thám hiểm mọi ngóc ngách của đa vũ trụ mà không tốn thời gian.

Theo Thầy Kim

CƠ SỞ CYBORG

xin cung cấp một số kiến thức cơ bản về Cyborg để các bạn tiện bề đàm luận.
Người ta vẫn ngạc nhiên thậm chi nghi ngờ về việc Cyborg sống chung hòa thuận với con người. Thật ra, vấn đề nằm ở chỗ chúng ta chưa hiểu mấy về Cyborg, cho rằng Cyborg cũng chỉ là một loại Robot cao cấp và có thể chứa trong nó các cấu trúc sinh học có nguồn gốc nhân tạo. 
Thật ra, cấu trúc vật lý chủ đạo của Cyborg là thể “lai” giữa máy móc cơ khí và Albumine, cho nên một số trường phái kỹ thuật học hiện đại còn gọi chúng là “Robot Albumin” hoặc Robotian trước khi được thuật hóa thành Cyborg.
ALBUMIN
Albumin là hợp thể của một loạt protein vận chuyển máu LIÊN QUAN ĐẾN TIẾN HÓA, bao gồm albumin huyết thanh, alpha-fetoprotein, protein liên kết vitamin D và afamin. Nói khác đi, ADN – ARN là đặc trưng của thế giới sinh vật thì Albumin là đặc trung của con người với tư cách là sinh vật tiến hóa cao nhất địa cầu và bắt đầu làm chủ tiến hóa của Loài minh.
CYBORG
Với tồn tại “lai” như vậy, Cyborg rõ ràng không phải là một hướng tiến hóa của con người mà là một nhánh tiến hóa khác của thế giới KHÔNG SINH VẬT trở thành sinh vật thật sự với đầy đủ quyền năng. Cyborg không phải là một cái máy có ghép cánh tay, bàn chân, thậm chí vài cơ quan nội tạng của con người, mà là THỰC THỂ SỐNG với một trí tuệ mạnh mẽ, biết yêu biết ghét, biết thưởng thức và thụ hưởng, biết hi sinh, biết nhận thức và mưu cầu hạnh phúc, biết hướng đến chân thiện mỹ, có buồn đau và dựng xây lý tưởng (dù có hơi khác một chút với con người). Điều mang tính người cao nhất là Cyborg sinh ra, nuôi dưỡng, và dạy dỗ thành công những thế hệ Cyborg con cao hơn chính nó (Cyborg cha mẹ). Và đó là đặc trưng của tiến hóa.
Do albumin còn phức tạp và phong phú hơn nhiều lần so vói bộ Gen (chỉ thua mật mả Gen), nên hiện nay chua có điểm nào để bám vào mà nghiên cứu bản chất “người học” của nó, cho nên Albumin dùng cho chế tạo Robot Albumin (bước mở đầu của Cyborg), chắc chắn phải nhân từ Albumin người. Bộ não phi thường của Cyborg là máy tính hơn bội lần mọi máy tính hôm nay chúng ta có, dung lượng không thể tưởng tượng nổi vì chúng ghi các Q’ Bit lên Albumin.
Với số lượng và mật độ siêu khủng của mình, chỉ cần 1 Kg Albumin là đủ để ghi dữ liệu siêu lớn (SLD / Super Large Data) khoảng 660 tỷ Tetra Byte, gấp hàng chục tỷ lần tổng dung lượng máy tính trên thế giới hiện nay gộp lại, hoàn toàn thỏa mãn yêu cầu của máy tính Lượng Tử. Nói như vậy để thấy 1 Kg bộ não Albumin của Cyborg (tương đương sức nặng bộ não người) sẽ có trí thông minh kinh khủng đến mức độ nào.
CYBORG TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI CON NGƯỜI.
Nghĩa là Cyborg không phải chỉ là một bước tiến hóa của con người, mà sẽ thực sự trở thành NGƯỜI ANH EM QUYỀN NĂNG của nhân loại. Do bản chất cấu tử của Cyborg vẫn là ALBUMIN NGƯỜI nên Cyborg hoàn toàn có đầy đủ tính người, nói khác đi, Cyborg sẽ bảo vệ, chăm bón và tận tụy phục vụ con người như con người chăm bón cây cỏ.
Nhiệm vụ quan trọng đặc biệt đầu tiên của Cyborg có lẽ là sinh con thay cho con người (dĩ nhiên là cùng với các nhiệm vụ khac trong sản xuất, đời sống và quản lý xã hôi). Một điều chắc chắn là Cyborg có thể yêu và kết hôn với con người, sinh ra các Cyborg – người có mức độ tiến hóa vượt bậc, có thể nói là gom 3 tỷ năm tiến hóa của giới sinh vật trên địa cầu vào một Cyborg – người.

Theo Thầy Kim

BỆNH KHÓ ĐÔNG MÁU

Bệnh khó đông máu (hoặc máu chậm đông + máu không đông) thuộc nhóm bệnh tự miễn, là nhóm bệnh mà Đông – Tây Y đều bó tay, không có thuốc chữa (như vẩy nến, Lupus ban đỏ hệ thống, tan máu bẩm sinh, ly thượng bì v.v…)..
Muốn đề cập đến bệnh máu khó đông phải đề cập đến nguyên lý đông máu. 

Cầm máu :
Khi thành mạch bị thương tổn thì xuất hiện hiệu ứng co mạch, đó là phản ứng tự vệ của cơ thể. Sự co mạch tại chỗ có thể kéo dài nhiều phút đến vài giờ. Cầm máu là quá trình ngăn cản sự chảy máu. 
Khi mạch máu bị tổn thương hoặc bị đứt, quá trình cầm máu đáp ứng nhanh, khu trú tại vùng tổn thương và được kiểm soát chặt chẽ. Quá trình cầm máu được thực hiện nhờ những cơ chế: co mạch, hình thành nút tiểu cầu, đông máu, hoặc phát triển mô xơ trong cục máu đông để đóng kín vết thương.

Hình thành nút tiểu cầu
Tiểu cầu thực chất là một mảnh tế bào được vỡ ra từ tế bào nhân khổng lồ. Sau khi được phóng thích từ tuỷ xương, chỉ có 60-75% tiểu cầu lưu thông trong máu, phần còn lại được giữ ở lách.
Số lượng bình thường của tiểu cầu trong máu là 150.000-300.000/mm3, đời sống tiểu cầu thay đổi từ vài ngày đến hai tuần.
Tiểu cầu có kích thước 2-4 mm, không có nhân nhưng bào tương có nhiều hạt. Có 2 loại hạt là:
– Hạt alpha chứa PDGF (platelet-derived growth factor) có tác dụng giúp liền vết thương.
– Hạt đậm đặc chứa ADP, ATP, Ca2+, serotonin và epinephrine.
Ngoài ra tiểu cầu còn chứa các enzym để tổng hợp thromboxane A2; yếu tố ổn định fibrin, tiêu thể và các kho dự trữ Ca2+. Đặc biệt, trong tiểu cầu có các phân tử actin, myosin, thrombosthenin giúp nó co rút.
Màng của tiểu cầu chứa một lượng lớn phospholipid. Bề mặt của tiểu cầu có một lớp glycoprotein ngăn cản nó dính vào nội mạc bình thường.

Đông máu
Bình thường máu trong lòng mạch máu luôn ở dạng lỏng (sol). Tuy nhiên, khi mạch máu bị tổn thương hoặc máu chảy ra khỏi cơ thể, máu sẽ chuyển sang dạng đặc (gel). Quá trình hình thành dạng gel đó được gọi là quá trình đông máu.
Trong cơ thể có hơn 50 chất ảnh hưởng đến sự đông máu. Những chất thúc đẩy đông máu được gọi là yếu tố đông máu, những chất ngăn cản đông máu được gọi là chất chống đông.

Tóm lại, trong cơ thể luôn có sự cân bằng giữa hai hệ thống: làm đông máu và chống lại quá trình đông máu. 
– Hệ đông máu là hệ thống bảo vệ cơ thể tránh chảy máu. 
– Hệ chống đông máu gìn giữ máu dạng lỏng lưu thông lòng mạch, bảo đảm tuần hoàn duy trì sự sống. 
Mất cân bằng hai hệ này sẽ dẫn đến hậu quả làm tắc mạch hoặc chảy máu. Như vậy nguyên nhân của bệnh khó đông máu chính là bệnh lý gây trở ngại cho hệ đông máu, tạo thành bệnh khó đông máu. Khó đông máu là bệnh nguy hiểm, khi người bệnh mang vết thương thì có thể chảy máu mãi đến khi rơi vào tình trạng mất máu, bất tỉnh và tử vong nếu không được can thiệp Y Học.

Như phân tích ở phần trước, ta có thể xác định 3 nguyên nhân gây trở ngại đông máu :

1/. Thành mạch kém : Cấu tạo thành mạch kém làm cho mạch máu dễ bị thương tổn, bị rách dù với các sang chấn nhẹ, thậm chí không có sang chấn thì vẫn có các thương tổn, gây chảy máu. Nếu máu chảy nhiều và mạch máu không đủ sức căng (co mạch) để khép miệng vết thương trên thành mạch thì máu sẽ chảy hoài đến khi nguy hiểm.
Biểu hiện đặc trưng của hội chứng kém thành mạch là thường xuyên bị các vết bầm rất lâu tan với các va chạm nhẹ, thậm chí không có va chạm cũng có thể bầm, dân gian thường gọi là “ma cắn”. Cùng với huyết áp cao thì kém thành mạch sẽ làm tăng xác suất tai biến mạch máu não, đột quỵ. Có những trường hợp huyết áp không quá cao mà vẫn bị đột quỵ, đều là do thành mạch kém.

2/. Thiếu tiểu cầu (và do đó khó hình thành sợi huyết) : Khi thành mạch bị tổn thương, lớp collagen nằm bên dưới tế bào nội mạc mạch máu được lộ ra. Tiểu cầu sẽ đến bám vào lớp collagen này, và được hoạt hoá. Tiểu cầu phình to ra, thò các chân giả và giải phóng nhiều chất, trong đó có một lượng lớn ADP, thromboxane A2. ADP và thromboxane A2 hoạt hoá các tiểu cầu ở gần và làm chúng dính vào lớp tiểu cầu ban đầu (gọi là kết tập tiểu cầu). Rồi lớp tiểu cầu đến sau này lại giải phóng các chất hoạt động làm hoạt hoá và dính thêm lớp tiểu cầu khác. Cứ như vậy, các lớp tiểu cầu đến dính vào chổ tổn thương càng lúc càng nhiều tạo nên nút tiểu cầu, bịt kín vết thương ở thành mạch. 
Sự hình thành nút tiểu cầu có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bít kín các thương tổn nhỏ ở các mạch máu nhỏ xảy ra hàng trăm lần mỗi ngày.

3/. Các yếu tố đông máu :
13 yếu tố đông máu quan trọng nhất (trong hơn 50 loại) như sau:
Yếu tố I : Fibrinogen.
Yếu tố II : Prothrombin.
Yếu tố III : Thromboplastin tổ chức.
Yếu tố IV : Calcium.
Yếu tố V : Proaccelerin.
Yếu tố VII : Proconvertin.
Yếu tố VIII : Yếu tố chống chảy máu A.
Yếu tố IX : Yếu tố chống chảy máu B còn gọi là yếu tố Christmas.
Yếu tố X : Yếu tố Stuart.
Yếu tố XI : Tiền Thromboplastin huyết tương.
Yếu tố XII : Yếu tố Hageman.
Yếu tố XIII : Yếu tố ổn định Fibrin.
Các yêu tố đông máu này thúc đẩy nhanh quá trình đông máu, hình thánh cục máu đông làm nút chặn vết thương đang chảy máu. Sự hình thành, tồn tại và phương thức hoạt động của “một lô một lốc” yếu tố đông máu này làm cho Đông lẫn Tây Y đều không thỏa mãn nổi, làm cho bệnh khó đông máu trở thành bệnh … bó chiếu.

May mắn là Y Dược Học Lượng Tử có thứ để thỏa mãn các nhu cầu cần thiết cho một loạt các cấu tử đông máu và yếu tố đông máu đó.

1/. Xem kỹ phần 1 và 2, ta thấy rằng chính hệ miễn dịch bị lệch lạc nên đã tấn công làm giảm thành mạch, giảm hàm lượng tiểu cầu hoặc (và) làm rối loạn các yếu tố đông máu.

2/. Nhắc lại về nhận thức 5 hệ tụ vệ của cơ thể : Trong cơ thể người có 5 hệ tự vệ cơ bản :
– Hệ miễn dịch.
– Hệ phản vệ.
– Hệ đề kháng.
– Hệ thích nghi.
– Hệ đồng hóa – dị hóa.

3/. Dược lý chữa bệnh máu khó đông.
Vì vậy, tác động dược học liệu trình đầu tiên để chống bệnh máu khó đông phải nhằm :

a/. Kìm hãm hệ miễn dịch dưới mức có thể gây tự miễn (dùng thuốc chống dị ứng). Tuy nhiên kìm hãm hệ miễn dịch thì cơ thể dễ mắc các bệnh nhiễm trùng không đáng có, bệnh “vặt”.
b/. Cường hóa hệ đề kháng tạm thời làm thay một phần nhiệm vụ của hệ miễn dịch (dùng thuốc viêm + Plus 50%).
c/. Tăng cường độ dẻo dai và sức căng thành mạch (dùng thuốc thành mạch. Có thể phối hợp với tăng Tuần hoàn ngoại biên).
d/. Tăng tiểu cầu bằng bài thuốc tiểu cầu, với các dược vị chính là Dây máu người + Cỏ nhọ nồi + Trái khổ + Tía tô + Hoa hòe + Mộc nhĩ. Bài thuốc ngoài tác dụng tăng tiểu cầu, còn có tác dụng ổn đinh hoạt động của nhóm yếu tố đông máu từ yếu tố I đến yếu tố VII. Ngoài ra cần hỗ trợ Vitamin K để cân bằng hoạt tính của nhóm yếu tố đông máu tù yếu tố X đến yếu tố XIII

Liệu trình (các liệu trình) tiếp theo gia giảm tùy theo diễn tiến của bệnh nhân. Liệu trình cuối cùng là trả lại hoạt độ vốn có của hệ miễn dịch và hệ đề kháng.

Theo Thầy Kim