LƯU LY MỸ TỬU – TUYỆT PHẨM VÀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT (Kỳ 2)

Kỳ 2: Sản Xuất Lưu Ly Mỹ Tửu

IV/. Sản xuất Lưu Ly Mỹ tửu:

Lưu Ly Mỹ tửu đã gần như biệt dạng, thất truyền chừng 50 năm nay. Tác giả đã khảo cứu gần 10 năm mới tìm lại được phương pháp cất được loại mỹ tửu độc đáo này và sau đó mạnh dạn tạo ra một công nghệ để sản xuất hàng loạt với số lượng lớn.

*Lưu ly thảo:

Trên các cánh đồng lầy rộng lớn vùng Đồng Tháp Mười, vào mùa nước nổi rút đi, mặt sình lầy lác đác nổi lên thì loài cỏ ống Lưu Ly với túm bông đỏ trên ngọn bắt đầu mọc lan tràn, nhanh chóng phủ khắp đầm lầy. Trẻ con thường cắt cỏ này, nút lấy vị ngọt nhẹ trong ống thân cỏ, xem như một loại “quà vặt” nhà nghèo, và thường bị “say” lan man, ngủ vật vờ trên lưng trâu.

1/. Phương pháp truyền thống: 

Lưu Ly thảo cắt về, ủ một đêm cho “có men” (nhân men tự sinh có sẵn trong dịch cỏ). Ép lấy nước, gia thêm một số dược phẩm rồi người ta đổ vào những hủ gốm không men và chôn xuống đất 100 ngày ở vùng đầt ẩm có phèn.

Cuối cùng là mang dịch (đã lên men) lưu ly thảo ra cất để đạt độ rượu cần thiết.

2/. Sản xuất công nghiệp:

a/. Ủ một lượng dịch lưu ly thảo để nhân lấy men lưu ly tự sinh.

 b/. Dùng bột gạo, nếp và thuỷ phân để có đường Glucoza.

 c/. Pha trộn dịch lưu ly đã có men với tinh bột đã thuỷ phân, ủ tiếp 30 ngày trong thiết bị ủ bằng gỗ nhân tạo có tự động điều chỉnh nhiệt độ.

d/. Thu hỗn hợp đã lên men, lọc lấy dịch lỏng, pha trộn với một số dược liệu chuẩn bị sẵn theo liều lượng định trước.

e/. Cất bằng lò cất “ruột xoắn” để có rượu lưu ly.

f/. Pha thêm nước cất (tăng độ) hay cồn thực phẩm (giảm độ) để đạt độ rượu theo dự tính.

g/. Vào chai, xử lý tia tử ngoại để diệt hoàn toàn tàn dư con men, bao bì – xuất phẩm. 

**So sánh hai phương pháp:

1/. Chất lượng, cảm quan, thẩm mỹ và tác dụng đặc hiệu của rượu từ hai phương pháp là hoàn toàn như nhau.

2/.  Phương pháp công nghiệp cho sản lượng lớn, chất lượng đồng đều và tính chủ động rất cao, khả thi trong thương mại hơn nhiều lần so với cách truyền thống.

IV/. Thiết bị và phương tiện: (cho qui mô 300 l/tháng)

Qui trình sản xuất Lưu Ly Mỹ tửu hiện đại cần các thiết bị chủ yếu sau đây:

1/. Thiết bị thuỷ phân tinh bột.

2/. Thiết bị ủ men

3/. Máy ly tâm lọc dịch Lưu Ly.

4/. Thiết bị phối liệu

5/. Lò chưng cất “ruột xoắn có tự sinh hàn.

6/. Bao bì, chai lọ.

7/. Thiết bị định chuẩn.

V/. Tổng phí đầu tư: (xem bảng)

T/tự Thiết bị Số lượng Giá (VNĐ) 

1 Thiết bị thuỷ phân 1 24.000.000 

2 Thiết bị ủ men 1 32.000.000 

3 Máy ly tâm lọc 1 30.000.000 

4 Thiết bị phối liệu 1 17.000.000 

5 Lò cất sinh hàn “ruột xoắn” 1 25.000.000 

6 Thiết bị định chuẩn 1 22.000.000 

7 Tổng số 150.000.000 

Chú thích đầu tư: Qui mô 1.000 l/tháng: 350 triệu VNĐ.

VI/. Kết luận:       

Công nghệ hiện đại xuất hiện đôi khi như là một giải pháp hữu ích cho sản xuất các sản phẩm độc đáo của ông cha truyền lại. Cần tìm cách khôi phục, tái tạo được những sản phẩm đã bị thất truyền, trong đó có Lưu Ly Mỹ Tửu. Nó tiềm ẩn một thế mạnh kinh tế rất lớn lao trong bản thân tính độc đáo, tính lịch sử và tính truyền thống của nó. 

Trong nội dung cho phép của một phác thảo giải trình công nghệ, chúng tôi chỉ hy vọng cung cấp được cho quí công ty và các bạn cái nhìn tổng quan để có hướng đầu tư tích cực.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 18/03/2004.

LƯU LY MỸ TỬU – TUYỆT PHẨM VÀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT (Kỳ 1)

TUYỆT PHẨM VÀ CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT

Kỳ 1: Lưu Ly Mỹ Tửu.

I/. Vài dòng về rượu Á Đông 

Hơn 2500 năm trước, khi mọi vùng đất đai và lãnh thổ khác của thế giới còn trong lạc hậu và mông muội tối tăm thì khu vực Á Đông đã có một nền văn hoá – văn minh rực rỡ. Riêng trong văn hoá ẩm thực thì Á Đông rất nhiều tuyệt phẩm, đặc biệt là rượu thì có nhiều loại độc đáo đến nỗi không có bất cứ vùng và châu lục nào so sánh được. Có thể kể vài nhóm rượu sau đây:

1/. Biệt tửu: Có những loại rượu riêng biệt dùng cho những mục tiêu, những dịp riêng. Như rượu dùng trong lễ lạc cúng bái, rượu dùng giao tế nghĩa tình, rượu dùng trong cưới hỏi, rượu báo hiếu (tế tử), rượu “nghinh phong” v.v… Tính chuyên biệt của các loại rượu là nét độc đáo của vùng Á Đông huyền bí và giàu truyền thống.

2/. Danh tửu: Là những loại rượu tiếng tăm dành cho người “sành uống”. Đa phần thì tên của danh tửu gắn liền với vùng đất tạo ra nó hay đắm mình trong tên núi, tên sông. Ví dụ: rượu “Phần” ở đất Phần mới có thể ngon như thế. Rượu “làng Vân”, “Bàu Đá”, Moutaii (Mao Đài) hay “gò Đen” cũng thế. Cá biệt là “nữ nhi hồng”, “hoàng hoa”,…

3/. Vương tửu (hay ngự tửu): Là loại rượu mang tính giai cấp rõ rệt, chỉ dùng cho hàng vua chúa phong kiến. Có hàng chục loại vương tửu dùng trong các giờ trong ngày, dùng khi ngắm trăng, dùng khi đến với cung tần mỹ nữ v.v….

4/. Mỹ tửu : Là loại rượu lưu truyền trong dân gian, có nét thanh tân và hương vị độc đáo, chinh phục mọi giới kể cả cung đình. Uống mỹ tửu là cả sự tự hào “sành rượu”, là phương tiện biểu hiện hào khí theo đặc tính đặc dụng của rượu.

II/. Mỹ tửu và Lưu ly Mỹ tửu 

*Mỹ tửu:

Rượu, không còn nghi ngờ gì nữa khi nói rằng nó gắn liền với văn hoá hưởng thụ và là một trong những vật phẩm của văn minh nhân loại nếu như không quá lạm dụng. Riêng Mỹ tửu thì nó có chỗ đứng đặc biệt trong thức uống phương Đông, đã đi thẳng vào văn học với những nhân vật Lý Bạch, Lưu Linh, Đỗ Phủ….

Bồ Đào Mỹ tửu dạ quang bôi

Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi

Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu

Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi

Mỹ tửu được uống với một cách không đơn giản chút nào. Cảnh, tình, điều kiện, ngay cả chiếc chén uống cũng phải phù hợp và xứng đáng với mỹ tửu. Phân hạng tự ngàn xưa đối với mỹ tửu đã có trong câu ca:

                Đệ nhất Lưu Ly

                Đệ nhị Quang Diện

                Đệ tam Bồ Đào

                Đệ tứ Nhân Âm

                … … … …

** Lưu ly Mỹ tửu:

Lưu Ly Mỹ tửu là thứ rượu gì ghê gớm mà đứng đầu mỹ tửu ? Câu ca dao Trung bộ VN sau đây cho thấy đặc hiệu của nó:

Anh thương em anh để đó đã…

Anh ra chợ Giã

Anh mua một bộ chén chung

Chén lớn sơn đỏ chén nhỏ bịt vàng

Rượu Lưu Ly rót để hai hàng…

Mời cha với mẹ uống trước, chàng với nàng uống sau.

Câu ca dao Nam Bộ này cũng thế:

Rượu Lưu Ly chân em quỳ, tay em rót

Cha mẹ khuất rồi, em bỏ gót theo anh

Không khó lắm để nhận ra Lưu Ly Mỹ tửu có quan hệ rất gần với tình duyên đôi lứa.

Thời Bắc thuộc, trong các cống phẩm từ nước Việt cho “Thiên triều”, ngoài sừng Tê, ngà voi, ngọc trai, còn có Lưu ly Mỹ tửu. Tương truyền Lê Quý Đôn trong một lần đi trao cống phẩm, nửa đêm đã…. uống trộm rượu Lưu Ly. Sau đó là cảm xúc của ông khi uống được Lưu Ly:

Lưu Ly Mỹ tửu tiến Kinh Dương

Dạ vị chung thâm đáo Mạnh Thường 

Quả là thứ rượu phi thường lắm mới mang lại hào khí Mạnh Thường Quân khi đêm còn chưa hết. Một điều đáng kinh ngạc cần chú ý ở đây là nguồn gốc thứ mỹ tửu đệ nhất thiên hạ này chính là nước Việt.

III/. Lưu Ly Mỹ Tửu – Xuân tửu đích thực:

Rượu Lưu Ly có những đặc điểm cảm quan và mỹ quan thực phẩm kỳ lạ:

– Trước hết, cần nói rõ rằng rượu Lưu Ly là rượu cất chứ không phải là rượu ngâm, cũng không dùng màu thực phẩm. Nghĩa là khi chảy từ vòi cất rượu ra, Lưu Ly Mỹ Tửu đã có màu sắc đặc trưng rồi. Rượu Lưu Ly có màu cơ sở là một màu đỏ rất tươi sáng. Màu đỏ này càng sóng sánh và tươi sáng khi được rót trong chén Lam Ngọc (Nghệ An) hay Bích Ngọc (Bình Thuận). Xét về mỹ quan thực phẩm thì không có rượu nào sánh được rượu Lưu Ly, do đó mà nó rất được ưa chuộng trong lễ nghi cưới hỏi.

– Rượu Lưu Ly có vị ngọt nhẹ, hương thơm ngát, dễ ưa và nhẹ nhàng, không cay đắng như mọi loại rượu nào khác. Khi ngậm trong miệng, nó không gay gắt, không gây cảm giác khó chịu cho niêm mạc miệng, nhưng khi qua khỏi cổ thì nó cứ như một chùm lửa, nói theo người sành rượu thì là “đi tới đâu biết tới đó”.

– Hơi rượu Lưu Ly thơm tho và bốc mạnh nhất theo đường bài tiết, đặc biệt là mồ hôi. Do đó mà khi uống vài chén, mồ hôi và hơi thở của người uống toả ra một mùi thơm nhẹ nhàng, đặc tính quý giá duy nhất không bất cứ loại rượu nào trên thế giới hiện nay có được. Không phải ngẫu nhiên mà nó vẫn được dùng nhiều như là một thứ rượu đặc thù của lễ nghi cưới hỏi.

– Uống rượu Lưu Ly vào, cảm giác yêu đời và hoà nhã đột nhiên xuất hiện, người uống sẽ cảm thấy không gian tươi hơn, mọi người khác giới chung quanh đẹp hơn và dễ nảy sinh hảo cảm.

– Vị ngọt nhẹ trong rượu Lưu Ly do đường Glucoza tạo ra. Cùng với dẫn xuất domen tự sinh trong quá trình ủ rượu và một số dược chất Đông phương tạo ra, rượu Lưu Ly có lợi cho việc dương cương, kéo dài và duy trì trạng thái dương cương đáng kể. Một số người dùng cho rằng Lưu Ly Mỹ tửu chính là một loại xuân tửu (kích dục) đích thực khi dùng vừa phải và hơn hẳn Viagra.

– Rượu Lưu Ly khó bốc hơi nên có thể rót ra và để rất lâu mà nồng độ giảm không đáng kể. Vì vậy mà trên 40 độ mà rượu Lưu Ly không thể đốt cháy như các loại rượu khác có cồn.

————

Đón xem kỳ 2: Sản xuất Lưu Ly Mỹ Tửu.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 18/3/2004.

CHẢ THỦ PHU THÊ

CHẢ THỦ PHU THÊ 

Nói chả thủ thì ít ai không biết: chả thủ làm bằng thịt đầu heo, trong đó có rất nhiều sụn mềm mại của tai heo, mũi heo … và các phần khác của thịt đầu heo (thủ). Người ta còn thêm kim châm, mộc nhĩ (nấm tai mèo) và một số thứ “độn” vào để chả thủ phong phú hương vị hơn.

Tuy nhiên chả thủ Phu Thê lại là một thứ rất khác biệt:

1/. Về nguyên liệu

Chả thủ Phu Thê chỉ dùng thịt thủ và lòng trắng + lòng đỏ trứng gà (tráng riêng biệt), nguyên thủy và không pha phách. Thịt thủ trước khi gói chỉ ướp với ít muối + tiêu xay không quá nhuyễn.

2/. Về hình thức 

– Sau khi gói thì đòn chả Phu Thê có hình dáng tương tự đòn bánh tét lớn. Nhưng khi ninh thành công (như ninh bánh tét) thì đòn chả thủ Phu Thê có rãnh ở giữa chia làm 2 thùy.

– Khi cắt lát chả thủ (dày hơn 10 mm) với cách xếp đặt riêng biệt thì miếng chả có hình trái tim, với hai dòng máu đỏ – trắng sinh động, đúng với danh xưng Phu Thê.

3/. Về hương vị 

Sụn trong miếng chả mềm nhưng nhai “sừng sực”. Chả thủ Phu Thê có hương vị nhẹ nhàng mà rất hấp dẫn vị giác, khứu giác, mùi hương xông lên màng não gây cảm giác ngất ngây. Miếng chả chứa nhiều collagen và calci sinh học, gần như không ngấy mùi mỡ, ăn hoài mà không ngán, không gây béo mập.

CÂU CHUYỆN HỒ LY TRUYỀN KỲ 500 NĂM 

Câu chuyện truyền kỳ về chả thủ Phu Thê có liên quan đến Lê Thái Tổ (Lê Lợi) của thời Lê sơ và nhân vật truyền kỳ HỒ LY. Ai đọc tác phẩm Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh đều nhớ Hồ Ly (hay Hồ Ly tinh) mà đặc biệt là Cửu Vĩ Thiên Hồ.

– Trong các huyền thoại và truyền thuyết ở những nước Đông Á như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản và Hàn Quốc, hồ ly tinh là cách gọi những con chồn (hay cáo) sống lâu năm, tự tu luyện, hoặc có cao nhân chỉ điểm mà hấp thu tinh hoa trời đất để thành tinh.

– Hồ ly tu luyện một trăm năm thì ba cái đuôi sẽ mọc ra và được gọi là Yêu Hồ, tu luyện đến 1.000 năm thì chuyển sang loài Lục vĩ ma hồ, và cứ như vậy, khi đến được cảnh giới là 9 đuôi Cửu vĩ thiên hồ thì chúng có thể hóa thành người.

– Tất cả các hồ ly tinh là giống cái, khi hóa thành người thường vô cùng xinh đẹp, thông minh, có sức quyến rũ kỳ lạ. Một trong những hình tượng nổi tiếng nhất về hồ ly tinh hóa người chính là nàng Đát Kỷ.

– Hàn Quốc và Nhật Bản cũng có nhiều truyện kể về cửu vĩ hồ ly. Những con cáo chín đuôi ở trong hình dung của người Hàn Quốc không hại con người, hoặc chỉ làm hại đến con người khi chúng bị loài người đe doạ.

– Tại Nhật Bản cũng có rất nhiều truyện kể, truyền thuyết về hồ ly tinh. Điển hình như truyện về Tamamo-no-Mae – một kỹ nữ của Thiên hoàng Konoe. Nàng được cho là một tuyệt thế mỹ nữ và đồng thời cũng cực kỳ thông minh. Nàng đã khiến cho Thiên hoàng mê muội nhan sắc, trí tuệ của mình. Nhưng càng say mê nàng, Thiên hoàng càng trở nên ốm yếu.

– Ở Việt Nam, trong sách Lĩnh Nam chích quái thì hồ ly chín đuôi được nhắc đến với hình ảnh là con vật hay gây hại cho dân lành, sau đó bị Lạc Long Quân giết chết để trừ hại cho dân. Hồ Tây (tên gốc là hồ Xác Cáo) chính là lăng mộ chôn xác cáo chín đuôi.

– Lê Thái Tổ Lê Lợi cũng từng có truyền thuyết liên quan đến hồ ly tinh. Ấy là khi còn lẩn trốn quân Minh ở Lam Sơn, ông bị truy đuổi gắt gao, bỗng lúc đó ông thấy một cô gái mặc váy trắng chết trôi trên sông, ông chôn cất cô gái tử tế và lẩn trốn tiếp. Đến khi suýt bị quân Minh tìm ra, có một con cáo trắng chạy từ đâu ra làm quân Minh đổi hướng.

Lê Thái Tổ biết rằng đó là cô gái đã cứu mình, về sau ông phong cô gái làm thần hộ quốc và cho làm một bức tượng hình một cô gái có nửa thân là cáo chín đuôi, và gọi là Hồ ly phu nhân.

Trong các cung nữ của Lê Thái Tổ có một nữ nhân 16 tuổi xinh đẹp tuyệt trần, thông minh tột đỉnh, ca hay múa giỏi và trù nghệ (nghệ thuật nấu ăn) đến mức thần kỳ. Tương truyền cô gái ấy quê ở Lam Sơn, nơi mà cô gái Hồ Ly chín đuôi ngày nào được Lê Lợi cứu sống. 

Lê Thái Tổ ăn uống không được tốt dù ở trong cung vàng điện ngọc Thăng Long, món ngon vật lạ không thiếu thứ gì. Một ngày nọ, cô gái tự tay làm món chả thủ Phu Thê dâng tặng lên Vua. Thái Tổ say đắm cả món ngon lẫn người đẹp, và “nhìn ra” nàng là Cửu Vĩ Hồ Ly vẫn theo để trả ơn mình, sủng ái đến mức phong tước Phu Nhân và cho đúc tượng vinh danh người con gái vừa đẹp vừa tài, lại có lòng trung trinh mạnh mẽ.

Một ngày cuối đông, nàng băng qua vườn ngự của Hoàng cung, rồi đột ngột biến mất. Nàng sớm ra đi nhưng đã kịp để lại món chả thủ Phu Thê cho hậu thế, đến nay đã hơn 500 năm.

LÀM CHẢ THỦ PHU THÊ 

1/. Nguyên liệu:

Một đòn chả thủ Phu Thê 1,5 Kg cần chuẩn bị:

– Thịt thủ 1,25 Kg 

– Nấm tai mèo hoặc/và kim châm (có hoặc không) 100g.

– Muối 1 muỗng cafe.

– Tiêu xay 1 muỗng cafe.

– Trứng gà 4 trứng (tách lòng tắng và lòng đỏ riêng).

– Lá chuối hột + dây buộc vừa đủ.

– Thanh tre nhánh (hoặc gỗ hay sắt) đường kính 2 – 3 Cm, dài 50 Cm : 2 thanh.

2/. Chuẩn bị:

– Thịt thủ nhổ lông, rửa sạch, xắt lát dày 2-3 mm. Cho vào thau Inox, tra muối + tiêu vào, ướp trong 1 giờ.

– Nấm tai mèo hoặc/và kim châm thái chỉ, ngâm nước nóng 4 giờ.

– Trộn nấm tai mèo hay (và) kim châm vào thịt thủ, ướp tiếp 1 giờ.

– Lòng đỏ tráng riêng, lòng trắng tráng riêng trong chảo bằng lửa nhỏ (riu riu lửa) với rất ít dầu mỡ.

–  Lá chuối hột lau sạch, hơ trên bếp cho mềm mại.

3/. Thực hiện:

– Trài lá chuối, rải lên lá một lớp thịt thủ dầy 1 Cm.

– Đặt một miếng lòng đỏ tráng lên mặt thịt thủ.

– Rải tiếp lên lớp lòng đỏ trứng một lớp thịt thủ dầy 1 Cm.

– Rải tiếp một lớp lòng trắng tráng lên mặt thịt thủ.

– Tiếp tục rải lớp thịt thủ dầy 1 Cm trên mặt lòng trắng tráng.

– Gói “lỏng tay” (không chặt quá) tương tự gói bánh tét.

4/. Nấu chả thủ Phu Thê:

– Cho đòn chả Phu Thê vào soong, đổ nước ngập mặt chả 1 Cm.

– Nấu sôi trong 30 ph đến 45 ph thì dừng nấu.

– Vớt chả ra, dùng 2 thanh (tre, gổ, sắt) đã chuẩn bị, đặt ép dọc đòn chả, siết để phân chia đòn chả thành 2 thùy dọc (như trong hình).

– Bỏ đòn chả vào soong nước còn nóng, nấu tiếp 2 giờ.

– Vớt chả ra, dựng đứng cho ráo nước, để nguội trong vài giờ (hoặc cho vào tủ lạnh).

5/. Sử dụng:

– Cắt lát chả thủ theo chiều ngang, lát dầy 1 Cm. Lát chả có hình số 8.

– Cắt nghiêng miếng chả theo tỷ lệ 3 – 7 để có hai hình nửa trái tim.

– Lật ngược một nửa, ráp hai phần lại để có hình trái tim, bày lên đĩa bẹt màu trắng hay đen (số miếng / lát tùy theo bề rộng của đĩa).

– Đặt lên ít hành – ngò – rau thơm (nửa bề rộng của đĩa, tránh che hết hình thề đặc biệt của lát chả), ghim một vài trái ớt đỏ chẻ ngọn ngâm dấm.

– Nước chấm: chấm bằng nước mắm, nước tương, thậm chí muối tiêu/ớt vắt chanh đều rất ngon.

VÀI LỜI VỀ CHẢ THỦ PHU THÊ 

Chả thủ Phu Thê là một trong những tinh hoa của nghệ thuật ẩm thực mà Tổ tiên đã để lại cho chúng ta. Với kiểu cách, hình dạng kỳ lạ, lại chứa trong nó cả một câu chuyện truyền kỳ đẹp hơn cả Liêu Trai Chí Dị của văn học Trung Quốc, hương vị khó có gì sánh nổi, chả Phu Thê nên được truyền bá rộng rãi để vinh danh văn hóa ẩm thực nghìn đời Việt Nam.

Chi phí làm chả Phu Thê cũng rất rẻ, phù hợp với thu nhập của người Việt, rất khả thì đi cùng với chúng ta qua chiều dày năm tháng.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 31/1/2019.

LƯỢC SỬ CỔ ĐẠI VIỆT NAM – Phần 1

Phần I : LỊCH SỬ VÀ SỬ HỌC VIỆT NAM

. . . . . . ..- Một phần của bài này đã được tác giả trình bày tại CLB

. . . . . . . . . . .VHNT Quận 4, TP HCM, tháng 9 năm 2001.

. . . . . . . .- Đã đăng trên báo Ethologist, Pháp.

Dựa vào truyền thuyết, truyện huyền ảo hay thần thoại mà dựng sử, gọi là huyền sử. Dựa vào những thêu dệt, thậm chí phóng đại để dựng sử, gọi là dã sử. Dựa vào quan điểm của chế độ cai trị, chính trị đương thời thì goi là chính sử. v.v… Các loại sử liệu như thế thường có độ tin cậy rất hạn chế, thậm chí còn đi ngược lại thực chứng khoa học … Thế mà nó vẫn được dùng rất phổ biến ở nước ta và một số nước chưa phát triển khác. Tầm ứng dụng của các loại sử này rất lớn, thậm chí được dùng làm tài liệu giảng dạy và học tập chính thức, gây ra bức tranh sai lệch về lịch sử và đánh giá sai từ bạn bè năm Châu.

Một học giả nước ngoài đã hỏi Vũ Kim : “Người Việt hiện đại và thông minh của các anh vẫn còn tin chuyện đẻ ra một bọc trăm trứng, nở ra trăm con hay sao ?” Techno : “Đó là truyền thuyết, nó được sáng tác để giải thích chứ không có mục tiêu phổ hiện sự thật, giống như tín đồ Công giáo tin vào Đức Mẹ Đồng trinh đó thôi”. Anh ta : “Nhưng đây không phải là đức tin, mà lại là tài liệu giảng dạy chính thức cho cả nước các anh kia mà”.

Đến đây thì Vũ Kim đành … đánh trống lảng …

Xin lật lại vấn đề một chút : chúng ta dùng từ “lịch sử” đã nhiều, nhưng bản than từ lịch sử thì ít ai muốn động tới. Nói khác đi, bản chất ngữ nghĩa của từ lịch sử chúng ta thường né tránh, đơn giản là do chúng ta … không biết nó là gì, hoặc là chỉ biết một cách mơ hồ, không đủ để phát biểu. Ngay cả trong wikipedia tiếng Việt, trích dẫn cả Bách Khoa toàn thư cũng chỉ mơ hồ:

Lịch sử là môn học về nghiên cứu và phân tích những sự kiện đã xảy ra. Trong thực tế, chỉ có một số sự kiện lịch sử được xem là “thật”. Đa số các nhà nghiên cứu các tường thuật lịch sử này, hay sử gia, tin rằng quan điểm hiện tại của chúng ta có thể đổi cách hiểu những sự kiện xưa. Vì thế cách giải thích những sự kiện xưa thay đổi thường xuyên qua các thời kỳ. Những giải thích dựa theo các nguồn gốc “căn bản” – những văn kiện được viết ra vào lúc đó hay gần sau lúc đó – thường được xem là có giá trị nhất.

http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD

NGỮ NGUYÊN CỦA TỪ LỊCH SỬ

Lịch, là diễn biến đã thật sự xảy ra trong không gian và thời gian, không chịu sự tác động của tri giác và nhận thức của con người. Sử là dấu vết của quá khứ còn lưu lại cho hiện tại và tương lai thông qua nhận thức có tính thời đại.

Chúng ta có thể tóm tắt ý nghĩa ngữ nguyên của từ lịch sử như sau :

1- Lịch sử là diễn tiến khách quan với mốc không gian và thời gian cụ thể của nó.

2- Diễn tiến lịch sử là nằm ngoài tác động của ý thức của con người.

3- Lịch sử được con người ghi nhận (thành văn hoặc không thành văn).

4- Lịch sử mang trong nó tri thức của thời đại.

Vì vậy, mà quan điểm và phương thức luận lịch sử hiện đại cần phải có những tiêu chí nào ?

1- Cần phải khách quan ở mức độ cao nhất có thể có để tránh sai lầm hay bóp méo sự thật một cách chủ quan trong nhận thực, ghi nhận và giảng dạy lịch sử.

2- Lịch sử mang hơi thở của thời đại, nên nó cần được liên tục nghiên cứu theo dữ liệu và phương pháp khoa học mà thời đại chúng ta đang có.

3- Trung thành với nhận thức và tư duy khoa học, tiếp cận sự thật lịch sử đã xảy ra trong quá khứ từ mọi hướng, bằng mọi biện pháp khoa học mà toàn cảnh khoa học – kỹ thuật đương đại cho phép, bổ sung thậm chí phủ định các ghi nhận trước đó về lịch sử khi cần thiết.

Chúng ta quay lại với LỊCH SỬ CỔ ĐẠI VIỆT NAM

Thời kỳ Hồng Bàng theo truyền thuyết và dã sử cho rằng bắt đầu từ năm 2879 TCN, là niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ. Địa bàn của quốc gia dưới thời vua Kinh Dương rất rộng lớn : phía bắc tới sông Dương Tử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải (một phần của Thái Bình Dương), phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày nay).

TRUYỀN THUYẾT

Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau sinh ra Lộc Tục. Đế Minh truyền ngôi lại cho con là Đế Nghi làm vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ. Con của Kinh Dương Vương với Long nữ là Sùng Lãm lấy hiệu là Lạc Long Quân nối ngôi, lấy tiên nữ Âu Cơ là con gái của vua Đế Lai, đẻ ra một bọc 100 trứng và nở ra 100 người con. Những người con sinh ra cùng một bọc gọi là “cùng bọc” (hay còn gọi là Đồng bào) để nói rằng tất cả người Việt Nam đều cùng có chung một nguồn gốc… Con cả của thần Rồng Lạc Long Quân và tiên nữ Âu Cơ trị vì dưới tên Hùng Vương, và là vị vua đầu tiên của người Việt. Vì thế, người Việt thường tự xưng là con rồng cháu tiên. Từ đó người Việt đã di cư từ miền nam Trung Quốc hiện giờ đến đồng bằng sông Hồng và hòa nhập với người dân bản xứ. Vào năm 258 TCN An Dương Vương thành lập vương quốc Âu Lạc, tại miền Bắc Việt Nam bây giờ.

SỰ THẬT LỊCH SỬ

Cách đây hơn 4.800 năm, toàn bộ vùng nam bắc đại giang Dương Tử chưa hề có chế độ phong kiến, do đó cũng chẳng có nước, có vua nào hết. Thể chế xã hội lúc bấy giờ là cát cứ theo nhóm cộng đồng cư dân có cùng một phong tục, ngôn ngữ, cách sinh sống và làm lụng v.v…

Theo những kết quả khảo cổ học hiện đại, từ bà Mẹ vĩ đại của nhân loại hiện đại là LUCIA ở Đông Phi, cách nay 200.000 nghìn năm đã có số lượng đông đảo người hiện đại thuộc chủng Homo Sapien, di chuyển thành nhiều nhánh lan tỏa đi khắp thế giới để tạo nên xã hội và làn sóng di thực nguyên thủy. Một bộ phận băng qua đại dương bằng bè sậy đến Indonesia và Phillippine, một nhánh qua eo Malacca đổ vào Malaysia, tiến dần theo ven duyên hải Việt Nam tạo ra các tộc người Phù Nam, Champa và các bộ tộc Tây nguyên ngày nay, lên phía Bắc để tạo ra các bộ tộc thượng du Bắc bộ. Sau đó họ tiến thẳng đến khu vực bình nguyên Lĩnh Nam thuộc 6 tỉnh phía Nam Trung Hoa ngày nay và định cư ở lưu vực Dương Tử, chủ yếu sống bằng nghề chài lưới sông nước trên đại giang Dương Tử. Nhóm thị tộc Hán Việt tiếp tục đi lên phương Bắc xây dựng nên các triều đại nhà Hán rồi quay trở lại tìm cách tiêu diệt và bằng mọi cách xóa bỏ dấu tích Bách Việt của mình, tự xưng Thiên quốc và nô dịch hóa cũng như Hán hóa cộng đồng Bách Việt.

Nói rõ ra, chính người Việt mới là tổ tiên của người Trung Hoa chứ không phải ngược lại như lý luận của “nước lớn” Trung Hoa và sự theo đuôi của những con người có tư tưởng bị trị và hèn yếu mang tư tưởng Trần Ích Tắc của nước Việt ngày nay.

Khu vực đại giang Dương Tử lúc bấy giờ có nhiều nhóm cát cứ như vậy, và họ có các chỉ tiêu nhân trắc gần giống nhau, nói chung là Bách Việt, với nghĩa là một trăm bộ tộc Việt. Các sách xưa ghi chép nhiều nhóm người Việt, trong đó có Câu Ngô (句吳), Ư Việt (於越), Dương Việt (揚越), Mân Việt (閩越), Nam Việt (南越), Đông Việt (東越), Sơn Việt (山越), Lạc Việt (雒越, người Kinh ở Việt Nam ngày nay) Âu Việt (甌越, hay còn gọi là Tây Âu – 西甌) v.v… Sách Hán thư (漢書) viết: “Trong vòng bảy hoặc tám nghìn dặm từ Giao Chỉ tới Cối Kê (thuộc vùng Bắc Chiết Giang), ở đâu cũng có Bách Việt, mỗi nhóm có các thị tộc của mình…”.

Như vậy chúng ta có thể đính chính sai lầm nhận thức lịch sử quan trọng : đó là không có dân tộc Bách Việt mà chỉ có nhiều thị tộc (tộc người với các thể chế và quan hệ riêng có) Việt được gom chung thành một danh xưng xã hội là Bách Việt.

Theo tập quán kết giao để tránh chiến tranh, người xưa thường nhận các địch thủ có thế mạnh tiềm tàng làm con, hoặc gả con để kết thân. Ta có thể thấy rằng việc “vua lấy tiên nữ sinh con” là để giải thích việc nhận con nuôi một cách thánh hoá. Người Lạc Việt (*) sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới trên các lưu vực đại giang, mạnh mẽ và nhiều tham vọng, dưới sự dẫn dắt của Sùng Lãm trẻ trung và hiếu chiến, buộc Lộc Tục phải nhận Sùng Lãm làm con nuôi, ban cho quyền hạn, hiệu là Lạc Long Quân, để tránh phải đối đầu.

Cách đây gần 3.000 năm, trận nhiệt hà dai dẳng và khắc nghiệt đã làm đại giang Dương Tử và các chi – phụ lưu của nó dần dần khô cạn. Các tộc người trong Bách Việt sinh sống bằng chài lưới và cả canh tác lúa nước đều khốn đốn, bắt buộc phải ra đi tìm đất sống. Lạc Long Quân với tư cách là đại thống lĩnh các tộc Việt phải dẫn trên dưới 100 bộ tướng chọn lọc trong Bách Việt (cùng quân lính và vợ con họ) tiến xuống phía nam trù phú.

Vượt qua rặng Hoàng Liên Sơn, tiến đến khu vực Piaya (Phi mã Yên Sơn) và Piaouac (Phi mã Ác Sơn) thì đoàn tinh binh của Lạc Long Quân chạm trán với lực lượng của Cửu Thiên Huyền Nữ và ác chiến nổ ra. Một bên là tinh binh hăm hở với áp lực tìm đất sống nếu không muốn diệt vong, một bên là bảo vệ chủ quyền và nguồn sống của cộng đồng các dân tộc thượng du Bắc Bộ, được đông đảo cư dân bản địa phục tòng và ủng hộ hết lòng . . .

Cửu Thiên Huyền Nữ là ai, cuộc ác chiến lịch sử diễn ra như thế nào, xin các bạn đón xem trong bài tiếp theo.

===============================

(*) Theo truyền thuyết của Việt Nam, tổ của người Lạc Việt bắt nguồn từ vùng Động Đình Hồ, nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, và địa bàn sinh sống lan rộng xuống tận vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam ngày nay. Sử sách của Việt Nam cũng chỉ trích dẫn từ các truyền thuyết này. Nguồn cổ sử duy nhất có nói đến Lạc Việt là một số rất ít các sách cổ của Trung Quốc, và các sách này cũng chỉ ghi lai rất ít thông tin.

Tài liệu cổ nhất viết về Lạc Việt là Giao Châu Ngoại Vực Ký (thế kỷ 4) viết như sau:

“Thời xưa khi Giao Chỉ chưa có quận huyện, thì đất đai có Lạc Điền, ruộng ấy là ruộng (cầy cấy) theo con nước thủy triều. Dân khai khẩn ruộng ấy mà ăn nên gọi là Lạc Dân. Có Lạc Vương, Lạc Hầu làm chủ các quận huyện. Ở huyện phần đông có Lạc Tướng. Lạc Tướng có ấn bằng đồng, (đeo) giải (vải mầu) xanh.

========================

CHÚ THÍCH :

(*) Danh sách 100 người con trai từ bọc trăm trứng theo thần phả :

Lân Lang làm vua

49 người con theo cha (Lạc Long Quân) là:

Xích Lang, Quynh Lang, Mật Lang, Thái Lang, Vĩ Lang, Huân Lang, Yên Lang, Tiên Lang, Diên Lang, Tích Lang, Tập Lang, Ngọ Lang, Cấp Lang, Tiếu Lang, Hộ Lang, Thục Lang, Khuyến Lang, Chiêm Lang, Vân Lang, Khương Lang, La Lang, Tuần Lang, Tân Lang, Quyền Lang, Đường Lang, Kiều Lang, Dũng Lang, Ac Lang, Tảo Lang, Liệt Lang, Ưu Lang, Nhiễu Lang, Lý Lang, Châm Lang, Tường Lang, Chóc Lang, Sáp Lang, Cốc Lang, Nhật Lang, Sái Lang, Chiêu Lang, Hoạt Lang, Điển Lang, Thành Lang, Thuận Lang, Tâm Lang, Thái Lang, Triệu Lang, Iích Lang.

50 người con trai theo mẹ (Âu Cơ) là:

Hương Lang, Kiểm Lang, Thần Lang, Văn Lang, Vũ Lang, Linh Lang, Hắc Lang, Thịnh Lang, Quân Lang, Kiêm Lang, Tế Lang, Mã Lang, Chiến Lang, Khang Lang, Chinh Lang, Đào Lang, Nguyên Lang, Phiên Lang, Xuyến Lang, Yến Lang, Thiếp Lang, Bảo Lang, Chừng Lang, Tài Lang, Triệu Lang, Cố Lang, Lưu Lang, Lô Lang, Quế Lang, Diêm Lang, Huyền Lang, Nhị Lang, Tào Lang, Ngyuệt Lang, Sâm Lang, Lâm Lang, Triều Lang, Quán Lang, Cánh Lang, Ôc Lang, Lôi Lang, Châu Lang, Việt Lang, Vệ Lang, Mãn Lang, Long Lang, Trình Lang, Tòng Lang, Tuấn Lang, Thanh Lang.

Trích theo

http://www.binhthuan.gov.vn/khtt/vanhoa/0005/0001/DTDH1.htm

Như trên đã phân tích, chúng ta thấy rõ ràng là người Việt chúng ta không hề có huyết thống gì với Lộc Tục (Kinh Dương Vương) và cả Lạc Long Quân, mà chỉ có giống nòi Lạc Việt mới là căn cứ đáng tin cậy nhất.

Những dữ liệu lịch sử từ Sử Ký Tư Mã Thiên (1) hay Đại Việt Sử Ký (1272) của Lê Văn Hưu không chép gì về đời Hồng Bàng. An Nam Chí Lược của Lê Tắc, viết tại Trung Hoa khoảng 1333, cũng không viết gì về đời Hồng Bàng. Phải đến khoảng 1377, trong Việt Sử Lược, một cuốn sách không rõ tác giả, mới có nhắc sơ qua đến đời Hồng Bàng. Một số thần phả còn bịa ra thụy hiệu của các vua Hùng (như Hùng Hy vương, Hùng Duệ vương… đã trích dẫn nói trên) nhưng tất cả đều không có dữ liệu lịch sử. Có thuyết còn tính một cách võ đoán rằng Kinh Dương Vương là Hùng Vương đầu tiên và Lạc Long Quân là Hùng vương thứ hai, sau đó chỉ có 16 Hùng Vương là hết thời Hồng Bàng.

Theo Thầy Kim.

KHÔ ÂM ĐẠO

Phần 1: Nguyên Nhân

1/. Cơ chế sinh học âm đạo 

– Âm đạo là cơ quan sinh lý – sinh dục ngoài của phụ nữ, cần được duy trì độ ẩm phù hợp với quá trình sinh lý – sinh dục. Khi độ ẩm này không được bảo đảm sẽ gây hiện tượng khô, rát, đau và có thể tạo thành các vết bỏng nhức buốt trên thành âm đạo.

– Tuyến Bartholin (gồm hai ống kích thước nhỏ nằm ở hai bên phía trong của lỗ âm đạo) đảm nhiệm việc tạo ra và tiết chất nhờn lên thành âm đạo. Trong điều kiện bình thường, tuyến Bartholin tiết trung bình 1 giọt/giờ để giữ ẩm độ âm đạo. Khi quan hệ tình dục thì tuyến Bartholin có thể tiết nhiều gấp hàng chục lần, thỏa mãn sự dịch chuyển trơn tru của quá trình sinh dục.

– Âm đạo bị khô là khi tuyến Bartholin không tiết đủ chất nhờn để có độ trơn ướt trong quan hệ tình dục, gây khô, rát, đau, tạo thành các vết bỏng nhức buốt trên thành âm đạo. Chứng khô âm đạo không gây nguy hiểm cho phụ nữ nhưng nó khó chịu, trở ngại sinh hoạt tình dục, thậm chí rất nhiều trường hợp đưa đến tan vỡ hạnh phúc gia đình do nó cản trở tình dục, làm giảm khoái cảm, gây đau khi giao hợp cho cả hai người, khó đạt đỉnh khi quan hệ tình dục…

2/. Phương thức điều tiết hoạt động của tuyến Bartholin

Tuyến Bartholin tiết dịch do những chi phối của co giãn cơ vòng âm đạo + hệ thần kinh + nội tiết + các loại thuốc từng sử dụng + sai lầm trong lối sống.

– Khi quan hệ tình dục, sự hưng phấn thần kinh của “khúc dạo đầu” (còn gọi là “kích thích”) là tác nhân quan trọng để tiết 30% chất nhờn (nhưng không phải là tất cả).

– Sự co – giãn của cơ vòng âm đạo có tác động đặc thù lên thành tuyến Bartholin làm cho Bartholin tạo ra lượng chất nhờn đủ lớn để chuẩn bị bôi trơn âm đạo. Nếu âm đạo bị thiếu co giãn (do tiền mãn kinh, do viêm nhiễm vi khuẩn, virus hay nấm lâu dài v.v…) hay mỏng đi do lão hóa cơ vòng thì chất nhờn cũng sẽ bị thiếu hụt quan trọng.

– Sự háo hức của quá trình tình dục làm tăng nồng độ estrogen và progesterone máu, thúc đẩy tuyến Bartholin tăng tiết 70% chất nhờn bôi trơn âm đạo trong suốt quá trình sinh hoạt tình dục. 

– Một số loại thuốc Tây Y làm giảm tiết chất nhờn Bartholin như thuốc trị hội chứng mãn kinh, sinh và cho con bú, điều trị ung thư, hút thuốc. Người bị bệnh ung thư tử cung cũng có khả năng bị bệnh vì đã phẫu thuật loại bỏ buồng trứng.

– Khô âm đạo còn có thể xảy ra do thụt rửa âm đạo sai cách (rửa bằng dung dịch vệ sinh âm đạo), tình trạng khô da ở bộ phận sinh dục, và kích thích âm đạo trong lúc quan hệ không đủ hoặc không đúng cách.

3/. Nguyên nhân gây khô âm đạo

Qua phân tích nói trên, chúng ta rút ra phán đoán Y Học của chứng Khô Âm Đạo:

a/. Suy giảm chức năng của tuyến Bartholin: Việc suy giảm chức năng của tuyến Bartholin thường do viêm nhiễm tuyến này. Viêm tuyến Bartholin là tình trạng xảy ra khi một hoặc cả hai ống của tuyến Bartholin bị nhiễm trùng. Nguyên nhân có thể là do các loại vi khuẩn hoặc do các bệnh lý phụ khoa khác thường lây truyền qua đường tình dục.

Viêm tuyến Bartholin nếu không được điều trị sớm có thể gây sưng đỏ và đau đớn ở vùng âm đạo. Nó cũng khiến các ống thông thuộc tuyến Bartholin bị tắc nghẽn. Chất nhờn không tiết ra được sẽ ứ đọng và tạo thành các u nang. Vi khuẩn tiếp tục tấn công các u nang này khiến chúng bị nhiễm trùng và tạo thành áp xe tuyến Bartholin.

b/. Cơ vòng và tổ chức âm đạo kém co giãn: Do lão hóa, do hội chứng tiền mãn kinh, do viêm nhiễm kéo dài …

c/. Trở ngại từ hoạt động tâm lý – thần kinh: sự mất háo hức sau “khúc dạo đầu” do nguyên nhân stress, căng thẳng gia đình và xã hội, do phai nhạt tình cảm, và các nguyên nhân tâm lý – thần kinh phức tạp khác.

d/. Do giảm tiết + mất cân bằng nội tiết:

Nội tiết tố ở người phụ nữ như estrogen, progesterone cần đầy đủ và cân bằng. Estrogen sẽ giúp duy trì mô âm đạo khỏe mạnh bằng cách duy trì tiết chất nhờn, đồng thời duy trì độ đàn hồi cũng như độ acid bình thường ở âm đạo. Progesterone làm nâng cao nhu cầu và khoái cảm tình dục. 

e/. Tránh sử dụng thuốc tân dược bừa bãi, đặc biệt là thuốc chống viêm, chống trầm cảm, thuốc hút và kháng sinh. Nó tác động trực tiếp lên cơ chế tâm lý – thần kinh – nội tiết, giảm khát vọng sống, giảm ham muốn và hạnh phúc gia đình.

f/. Luyện tập thể thao vừa phải, bài bản và đủ mức độ để duy trì sức trẻ – khỏe của cơ thể để có cuộc sống tình dục viên mãn. 

Sai lầm lớn nhất là đặt quá cao vị trí của sự kích thích của “khúc dạo đầu”, xem nó là “tất cả” với chứng khô âm đạo như bạn Nguyễn Quốc Chánh nói trên.

Phần 2 : Xử lý chứng khô âm đạo

Đã xác định và phân lập được nguyên nhân thì xử lý chứng Khô Âm Đạo dĩ nhiên là chẳng có gì khó. Chu trình xử lý chứng Khô Âm Đạo theo các bước sau:

1/. Tăng cường vận động thể lực, ăn uống và nghỉ ngơi hợp lý, nâng cao khát vọng sống trên cơ sở thân thiện, chan hòa và sẵn sàng chia sẻ tâm thái với người trong gia đình, bạn bè thân thiết và các quan hệ xã hội (có chọn lọc), tăng thể trạng (nếu gầy ốm) hay giảm mỡ (nếu quá béo), trị dứt hôi nách và hôi miệng (nếu có). Đặc biệt Chạy bộ + Đi xe đạp + Bơi lội còn làm tăng tính co dãn của cơ vòng sinh dục.

Tổng hòa của những điều này sẽ giải phóng hầu hết mọi stress, muộn phiền hay áp lực trong công việc, trong quan hệ gia đình và xã hội …, giữ sự lạc quan và tin yêu cuộc sống.

2/. Trị dứt các viêm nhiễm do vi khuẩn, nấm, virus … ký sinh trùng (nếu có), đặc biệt viêm nhiễm ở tuyến Bartholin (thông tuyến nếu tuyến bị tắc). Tăng DHA – K+ hỗ trợ Bartholin tăng sản và tăng tiết chất nhầy âm đạo. 

3/. Dừng tất cả các loại thuốc Tây Y tác hại đến quá trình sinh lý – sinh dục và cản trở sự tăng tiết chất nhầy Bartholin. Học hỏi và sử dụng cách vệ sinh sinh dục đúng, tránh thụt rửa bằng các dịch thụt rửa âm đạo gây khô âm đạo.

4/. Hỗ trợ cơ chế nội tiết bằng bài thuốc “Nội tiết nữ” nhằm điều chỉnh cả nội tiết tố Estrogen và Progesterone trên cơ sở hiểu rõ rằng cơ thể phụ nữ là đặc biệt phi thường, sản sinh được cả Estrogen và Progesterone, trong khi cơ thể nam giới chỉ tiết mỗi progesterone mà thôi. Y Học Cổ Đại vẫn cho rằng “Đàn ông là một nửa đàn bà” vì lý do đó.

5/. Cần học hỏi (và sử dụng) phương thức ái ân, âu yếm và quan tâm nhau trong suốt quá trình sinh dục. Đừng đánh giá quá cao “khúc dạo đầu” mà cần hiểu rõ rằng sự háo hức tình dục trong suốt quá trình quan hệ tình dục mới là quan trọng nhất, bảo đảm quá trình sinh dục hoàn hảo. Nếu chỉ quan tâm đến kích thích trong “khúc dạo đầu” thì sau vài phút trơn ướt, âm đạo bắt đầu khô, gây đau đớn, thậm chí có trường hợp khô đến nỗi dính chặt không tách ra được, phải dùng băng ca đưa cả đôi đến trạm Y tế, gây xấu hổ với cả xóm giềng, hậu quả sau đó là người phụ nữ có thể lãnh cảm cả đời.

6/. Trong quá trình tiến đến cuộc sống tình dục hoàn hảo đó, có thể hỗ trợ bằng Gel sinh dục (có bán ở các trung tâm Y tế cộng đồng) nhưng có thể bị hại vì mua phải hàng giả ngoài thị trường. Dịch bôi trơn sinh học hỗ trợ sinh dục an toàn nhất là DẦU MÈ hoặc một hỗn hợp Dầu mè + Dầu Ô liu với tỷ lệ 60% + 40%.

Chúc chị em phụ nữ giữ được cuộc sống tình dục hoàn hảo.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 4/12/2018.

CHỮA BỆNH RỤNG TÓC

I/. Đại cương

Chữa bệnh rụng tóc (chứ không phải chống rụng tóc) là tăng nội lực của cơ chế mọc tóc, từ đó ngăn được rụng tóc và làm cho tóc mọc lại ở những nơi tóc thưa hoặc bị rụng tóc nhiều.

Có khá nhiều nguyên nhân gây rụng tóc như nang tóc nhiễm vi khuẩn Candida, như nhiễm nấm tóc, như do stress, do rối loạn nội tiết v.v…. Cần chữa các nguyên nhân này trước khi can thiệp vào quá trình rụng tóc bằng các bài thuốc đặc hiệu nếu không muốn “ngưng thuốc thì tái bệnh”. 

Vì vậy, cần khám chẩn để chữa trị có hệ thống, hiệu quả nhanh và không tái phát.

II/. Dược pháp 

1/. Thuốc uống 

Bài 1: Chữa rụng tóc quá nhiều (2/3 đầu)

Kê huyết đằng 20 g, sinh hoàng kỳ 60 g, sinh địa hoàng 15 g, thục địa hoàng 20 g, thủ ô đằng 20 g, xuyên khung 12 g, bạch thược 18 g, thiên ma 9 g, mộc qua 6g, dân dương hoắc 20 g, đông trùng hạ thảo 9 g, kê thi đằng 18 g, hán liên thảo (hay bị gọi trệch là hạn liên thảo) 12 g, quả dâu 18 g. 

Sấy khô, xay bột, viên hoàn 5 – 6 mm với hồ bột và 5% mật ong. Uống ngày 3 lần / lần 30 viên sau mỗi bữa ăn trong 30 ngày.

Gia giảm : dây bổ máu 10g.

Bài 2: Chữa hói cả đầu

Câu đắng 15 g, nữ trinh tử 18 g, chế thủ ô 60 g, hán liên thảo 18 g, sinh địa hoàng 20 g, thục địa hoàng 30 g, thiên môn đông 18 g, bách tử nhân 20 g, đan sâm 30 g, huyền sâm 18 g, cát cánh 9 g, đại hoàng 6g, mạch môn đông 18 g, phục linh 12 g, viễn chí sao 9 g, hổ trượng 18 g, cam thảo 3 g. 

Sấy khô, xay bột, viên hoàn 5 – 6 mm với hồ bột và 5% mật ong. Uống ngày 3 lần / lần 30 viên trong 30 ngày.

Gia giảm: Hoài sơn 15g, dây bổ máu 12g.

2/. Thuốc bôi 

Bài 1: Hành củ tươi 30g, ngô công 3 con, gừng tươi 50g, cỏ mực 30g, hồng hoa 5g.  

5 thứ đem giã nhuyễn rồi bôi vào nơi tóc bị rụng, mỗi ngày 2 – 3 lần, dùng liên tục cho đến khi tóc nhú lên thì ngừng. Bài này chuyên trị bệnh rụng tóc kể cả tóc rụng thành từng mảng.

Bài 2: Gừng tươi 100g, trắc bá diệp 100g, ớt chỉ thiên 50g. 3 thứ thái nhỏ rồi ngâm trong 800ml cồn etylic 70 độ, sau 15 ngày thì dùng được, 

Lấy bông gòn tẩm dịch thuốc bôi vào vùng tóc rụng, mỗi ngày 3 lần, 50 ngày là 1 liệu trình.

Bài 3: Phá cố chỉ 20g, hạn liên thảo (cỏ nhọ nồi) 10g, xuyên tiêu 10g, can khương 10g, ban miêu 2 con, hồng hoa 5g. Tất cả đem ngâm với 200ml cồn etylic 70 độ trong 1 tuần thì dùng được, tẩm dịch thuốc vào bông gòn rồi bôi vào nơi tóc bị rụng, mỗi ngày 3 – 5 lần, 30 ngày là 1 liệu trình. Chú ý: vì ban miêu rất độc nên tuyệt đối không để dịch thuốc dây vào mắt, miệng, mũi. 

Một nghiên cứu đã khảo sát trên 123 bệnh nhân, đạt hiệu quả 95,9%.

3/. Thuốc Xông – gội : Sinh địa 30g, hà thủ ô 30g, cành cây vừng đen 50g, vỏ cây liễu 50g. 

Tất cả đem sắc rồi xông gội đầu hằng ngày. Sau mỗi lần xông gội, dùng khăn lau nhẹ cho tóc bớt ướt, lưu dịch thuốc chừng 30 phút rồi gội lại bằng nước sạch, 5 ngày là 1 liệu trình. 

Một nghiên cứu đã khảo sát trên 110 bệnh nhân, sau 3 – 10 liệu trình đạt hiệu quả 97,3%.

Dược pháp cho tình trạng rụng tóc “in ít” cũng khá đơn giản như sau:

* Dược liệu :

– Vitamin B1 250 mg: 5 viên. (viên nang thì dễ dùng nhất).

– Mật ong loại tốt 3 muỗng cafe.

– Dầu dừa hay dầu mè 3 muỗng cafe.

* Cách làm:

– Vitamin B1 (viên nang bỏ vỏ lấy bột, viên nén cán thành bột nhuyễn), cho vào cốc nhỏ.

– Tra mật và dầu dừa vào, trộn đều thành hỗn hợp thuốc dạng Gel.

* Cách dùng:

– Vạch tóc, bôi đều thuốc vào khắp da đầu đến chân tóc 

– Sau 2 đến 5 phút thì massage da đầu, chà sát nhẹ bằng phần da thịt của ngón tay, tránh dùng móng tay có thể gây trầy sướt, bong tróc.

– Ủ trong khoảng 1 giờ để thuốc thấm vào chân tóc và da đầu, khởi động nội lực của cơ chế mọc tóc.

Kiên trì mỗi ngày một lần thì sau 1 tháng, sẽ thấy tình trạng rụng tóc biến mất, tóc mọc nhiều hơn, mịn màng óng ả.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 10/6/2018.

NÃO ÚNG THUỶ

Não úng thủy có tên khoa học là hydrocephalus hay còn gọi là bệnh đầu nước. Đây là một căn bệnh do dư thừa quá mức dịch não tủy. Bình thường thì dịch não tủy được hình thành trong não thất và được hấp thụ. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, quá trình hấp thụ dịch não tủy bị cản trở, dẫn đến việc tích tụ dịch não tủy trong hệ thống não thất của não, làm tăng áp lực nội sọ và gây ra bệnh não úng thủy. Bệnh não úng thủy thường gặp nhiều nhất là trẻ sơ sinh và người lớn trên 60 tuổi. Nếu không điều trị sớm, căn bệnh này sẽ làm tổn thương não không hồi phục được, có thể gây mù, động kinh, bại não,…thậm chí có thể gây nên tử vong.

Trẻ mắc bệnh não úng thủy rất hay khóc, bú kém kèm theo biểu hiện nôn ói, ánh mắt luôn nhìn xuống, khi nằm đầu nghẹo sang một bên, hai tay và chân kém linh hoạt,… Bên cạnh đó, còn một số biểu hiện khác như thường xuyên giật mình, thậm chí đó chỉ là một tiếng động rất nhỏ.

Ở trẻ lớn hơn, các triệu chứng thường là dễ kích thích, khó chịu, mệt mỏi, chán ăn, nôn mửa, nhức đầu, khó tỉnh táo hoặc khó thức dậy, mất phối hợp hoặc cân bằng, không kiểm soát được bàng quang.

Phương pháp chữa trị não úng thủy tốt nhất là liệu pháp ngoại khoa, sử dụng biện pháp phẩu thuật hay được sử dụng nhất là đặt dẫn lưu não thất- ổ bụng. Phẫu thuật này đưa một ống mềm đi dưới da, một đầu ống ở não thất, đầu kia trong khoang phúc mạc của ổ bụng. Dịch não tủy theo ống dẫn lưu từ não thất đổ vào khoang phúc mạc. Tại đây dịch được hấp thu và trở lại tuần hoàn.

Trẻ dưới 6 tháng tuổi được can thiệp và chữa trị kịp thời có thể hồi phục hoàn toàn và không để lại di chứng.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 24/8/2018.

HÁCH TỪ TRONG NÔI

Thường xuyên có sự tăng tiết tuyến mồ hôi vùng nách (gồm cả tuyến mồ hôi lớn apocrine và tuyến mồ hôi nhỏ eccrine) do hoạt động mạnh, kéo dài, hay không gian nóng ẩm thiếu không khí đối lưu. Sự tăng tiết mồ hôi trong đó có mùi hôi vùng nách, bẹn không phải là nguyên nhân của bệnh hôi nách như người ta lầm tưởng. Về bản chất, đây là những tuyến sinh lý bình thường mà ai cũng phải có. Mồ hôi nách là một chất lỏng hơi đặc chứa chất nhờn là acid béo không no và các chất bài tiết phức tạp khác bao gồm proteine, sắt v.v… Mùi vị khó chịu của hôi nách sẽ làm cho người bệnh dễ bị xa lánh, trẻ nhỏ mắc bệnh hôi nách cũng có thể gây ảnh hưởng không tốt đến tâm lý dậy thì của trẻ.

Nói về hôi nách, chắc là chúng ta ai cũng có thể đôi lần gặp phải. Nhất là trong môi trường không thóang khí như phòng họp, xe buýt, phòng ăn máy lạnh, thậm chí phòng ngủ thì mùi hôi nách trở thành một thứ kinh hòang. Ngồi bên người hôi nách thường đối diện với một đòn tra tấn đôi lúc mang ý nghĩa của địa ngục trần gian.

Nguyên nhân bị hôi nách gắn liền với các triệu chứng sau đây:

1/. Tuyến mồ hôi lớn (tuyến Apocrine) ở nách hoạt động quá mạnh, gây tăng tiết mồ hôi. Tăng tiết mồ hôi có thể thứ phát sau những tổn thương thần kinh trung ương, ngoại vi hay cục bộ hoặc là bệnh cường giáp trạng. Dưới tác dụng của vi khuẩn trên da, chúng tạo mùi rất khó chịu. 

2/. Dư lượng thực phẩm (chất béo, đường, protid v.v…) lên men trên da vùng nách gây các mùi hôi đặc trưng (mùi chua chua của phân mèo, mùi ỉ ỉ của tre ngâm, mùi thum thủm của trứng ung ….) tổng hòa thành một mùi khó diễn tả.

3/. Các độc chất từ môi trường sống tiềm nhập vào cơ thể qua hô hấp và tiêu hóa đẩy ra tuyến mồ hôi nách tạo thành một loại độc chất thần kinh hỗn hợp gây buồn nôn, chóang ói, thậm chi có thể gây bất tỉnh hay động kinh với người có cơ địa mẫn cảm).

Chính vì không xác định được nguyên nhân bệnh hôi nách mà hướng điều trị bệnh chung của Tây Y là can thiệp để giảm sự hóat động của tuyến mồ hôi ở nách hoặc tiêu diệt bớt các tuyến. Chữa bệnh bằng cách can thiệp thô bạo trên cơ thể kiểu đó đã gây rất nhiều tác hại cho bệnh nhân.

Bái thuốc trị bệnh hôi nách:

1/. Thuốc thoa vào nách:

Hồi 5g; hột tiêu xay tươi: 20g; gừng tươi 30g; hạt nhãn 40g; lá ngải cứu : 25g; bạch hà 10g; bạch chỉ 10g; trá xanh 10g; rượu trắng 50g.

Tất cả giã nát, trộn vào rượu, để chỗ mát qua đêm, chắt lấy nước dung dần. Sauk hi vệ sinh cùng nách thì dùng bông gạc hay vải sạch tẩm thuốc thoa vào nách, ngày 3 đến 5 lần. 

2/. Thuốc uống: 

Hoàng kỳ 20g, Thiên môn đông 20g; ngải cứu 20g; Quế chi 10g 12g; Chích cam thảo 6g; Bạch thược 10g; Sinh khương 3 lát; Đại táo  4 quả; con trai 30g; lá lốt 25g; đậu xanh : 30g, Ý dĩ 30g; gạo nếp 30g. Muối – đường vừa ăn.

Tất cả cho vào 2 lít rưỡi nước nấu thành cháo đặc còn 1 lít chia ra ăn 3 lần trong ngày. Sau 15 ngày sẽ cò hiệu quả rõ rệt: giảm tắng tiết mồ hôi tóan thân đặc biệt là nách, mủi hôi nách giảm hẵn đến không còn, thậm chí là có hương thơm nhẹ nhàng.

Chúc các bạn sớm thoát khỏi “niềm đau khôn giấu”, yên tâm và tự tin hơn trong cuộc sống, tiến tới những thành công mong đợi.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 20/7/2015.

VIRUS CMV (Cytomegalovirus).

Các chuyên gia cảnh báo phụ nữ mang thai tránh ăn đồ thừa của con vì sợ rằng nó có thể truyền một loại vi rút có thể khiến đứa con trong bụng bị điếc, bị tai biến não, thiểu năng vận động, thiểu năng tư duy và tim mạch bẩm sinh .v.v…

* CMV (Cytomegalovirus) ở đâu ra?

– Virus Cytomegalo (CMV) là loại virus THUỘC NHÓM HERPES, tên gọi này là từ tế bào bị nhiễm virus phồng to lên. Đây là tác nhân có thể gây nhiều bệnh cho mọi nhóm tuổi, từ những bất thường bẩm sinh đến các rối loạn bệnh lý, đặc biệt ở  người suy giảm miễn dịch. 

– Cytomegalovirus liên quan đến virus gây ra bệnh thủy đậu, herpes simplex và tăng bạch cầu đơn nhân. Một lần bạn bị nhiễm CMV, virus sẽ tồn tại trong cơ thể bạn suốt đời, nhưng không phải luôn luôn hoạt động. Chu kì của CMV bao gồm giai đoạn ở thể ngủ và sau đó hoạt động trở lại. Nếu bạn đang khỏe mạnh, CMV chủ yếu ở thể “ngủ” nghĩa là không hoạt động. Bạn có thể truyền virus sang cho người khác trong quá trình CMV tái hoạt động.

– CMV lan truyền từ người này sang người khác thông qua tiếp xúc với dịch cơ thể, ví dụ như máu, nước bọt, nước tiểu, tinh dịch và sữa. CMV thường không lây truyền qua sữa mẹ. Tuy nhiên nếu bạn đang mang thai và nhiễm trùng CMV đang tiến triển, bạn có thể truyền virus sang trẻ.

– CMV có mặt ở khắp nơi trên thế giới, chỉ gây dịch nhỏ. Cuộc sống cộng đồng và vệ sinh cá nhân kém là điều kiện thuận lợi cho sự lây truyền bệnh; khoảng 1% sơ sinh nhiễm CMV, tỉ lệ này cao hơn ở các nước đang phát triển.

– CMV có thể hiện diện trong sữa mẹ, nước miếng, phân người và nước tiểu. Sự lây truyền theo nhiều kiểu khác nhau. Nhiễm ở tuổi chu sinh và trẻ em nhỏ xảy ra rất thường xuyên. Giai đoạn sớm thì truyền qua nhau thai, trong lúc sinh và trong sữa mẹ. Ở trẻ nhỏ thì truyền qua nước bọt. Lúc lớn thì truyền qua đường sinh dục, CMV hiện diện âm thầm trong tinh dịch và dịch tiết cổ tử cung. Nó cũng truyền qua đường máu hoặc ghép cơ quan. 80% người lớn có kháng thể.

– Khoảng 40-80 % người lớn bị nhiễm CMV tại Hoa Kỳ trước tuổi 40. Ở các nước đang phát triển tỉ lệ này cao đến 90 %.

* CON ĐƯỜNG LÂY NHIỄM CMV

1/. Nhiễm CMV ở người lớn và trẻ em lớn:

Nhiễm CMV gây ra Hội chứng tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng. Thời gian ủ bệnh 20 – 60 ngày, xuất hiện triệu chứng bệnh sau 2 –  6 tuần với các triệu chứng: sốt kéo dài, đôi khi lạnh run, suy yếu, khó chịu; đau cơ, lách to, viêm họng xuất tiết và viêm hạch ở cổ;…bất thường chức năng gan và bệnh lý lympho bào. Bệnh thường nhẹ, hầu hết bệnh nhân hồi phục không di chứng nhưng viêm gan cận lâm sàng lại thường gặp. Rất hiếm khi nhiễm CMV đưa đến tử vong, trừ các trường hợp bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch. Đặc biệt ở bệnh nhân được ghép thận, ghép tủy bị đè nén miễn dịch để lại biến chứng viêm phổi mô kẽ với tỷ lệ cao.

2/. Nhiễm CMV chu sinh:

– Trẻ sơ sinh có thể bị nhiễm CMV trong lúc sinh khi ngang qua âm đạo hoặc nhiễm sau sinh khi bú sữa mẹ hay do tiếp xúc với các dịch tiết khác của mẹ. 40 – 60 % trẻ sơ sinh bú mẹ hơn một tháng mà mẹ có huyết thanh dương tính với CMV sẽ bị lây nhiễm.

– Đa số các trẻ này đều không có triệu chứng, một số trẻ có thể có triệu chứng viêm phổi kẽ kéo dài. Một số triệu chứng khác hay gặp như cân nặng lúc sinh thấp, viêm hạch, nổi mẩn, viêm gan, tế bào lympho tăng và thiếu máu.

– CMV có khả năng được thải không liên tục từ hầu họng và nước tiểu trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm.

3/. Nhiễm CMV bẩm sinh:

– Trẻ nhiễm virus trong thời kỳ thai nghén gây bệnh thể vùi tế bào khổng lồ. Tế bào khổng lồ được tạo thành gọi là Cytomegalo, có nhiều nhân nổi bật, nhiều thể vùi trong nhân. Nhiều cơ quan cũng bị nhiễm dẫn đến bất thường bẩm sinh.

– Hầu như chỉ những thai nhi có mẹ bị nhiễm CMV lần đầu trong khi mang thai mới có triệu chứng lâm sàng.

– Thai nhi có nhiều dạng biểu hiện lâm sàng từ không có triệu chứng đến thể nặng và lan rộng toàn thân. Một số triệu chứng như đốm mảng xuất huyết, gan, lách to, vàng da (60-80%), teo não và đầu nhỏ, nhu mô não bị vôi hóa, chậm phát triển trong tử cung(30-50%), thoát vị bẹn và viêm võng mạc ít thấy hơn.

* Nguy cơ:

– CMV là một loại virus lan truyền rộng và phổ biến có thể xâm nhiễm bất kì ai. Nhưng trẻ nhỏ và người lớn khỏe mạnh bị nhiễm trùng thường có ít triệu chứng hơn, chính vì thế CMV thường không được chẩn đoán phát hiện.

– CMV kháng với mọi loại kháng sinh, chưa hề có phác đồ điều trị và không có vaccine. Nguy cơ nó bùng phát cùng với những nhóm Herpes khác và các siêu khuẩn kháng thuốc rõ ràng là họa diệt vong toàn cầu và là gánh nặng xã hội.

* Triệu chứng chung:

Trẻ sơ sinh bị nhiễm CMV khi còn trong bụng mẹ (CMV bẩm sinh), những đứa trẻ bị nhiễm CMV trong khi sinh hoặc một thời gian sau sinh (CMV sau sinh)- ví dụ như do bú sữa mẹ- và những người có hệ miễn dịch kém thường có nhiều nguy cơ tiến triển các dấu hiệu và triệu chứng hơn là những người khỏe mạnh.

* Triệu chứng ở trẻ em:

– Những phụ nữ mang thai bị nhiễm CMV sẽ có nguy cơ truyền virus sang cho con. Nếu lần đầu tiên bạn bị nhiễm (nhiễm CMV nguyên phát), nguy cơ truyền virus sang cho con sẽ cao hơn những lần bạn tái nhiễm. Sự lây truyền thường xảy ra trong thời kì đầu mang thai, thường trong 3 tháng đầu.

– Hầu hết trẻ em nhiễm CMV trong thời kỳ bào thai thường biểu hiện khỏe mạnh trong lúc sinh, nhưng một số dấu hiệu sẽ tiến triển theo thời gian – đôi khi không chỉ vài tháng hay vài năm sau sinh. Biểu hiện thường gặp nhất xuất hiện sau sinh đó là mất thính lực. Một số trẻ nhỏ cũng có thể tiến triển sự suy yếu thị lực.

* Ngăn ngừa CMV bằng cách nào?

– Vệ sinh tay thường xuyên bằng xà phòng là yếu tố chủ chốt để ngăn chặn sự lây lan của virus CMV.

BS. Chrissie Jones, chủ nhiệm dự án nói: “Thông điệp quan trọng nhất là không tiếp xúc với nước bọt của trẻ nhỏ”.

Người mẹ không được ăn chung thức ăn với con trẻ. Việc các bậc cha mẹ ăn nốt đồ ăn thừa của con là khá phổ biến, chẳng hạn như các món cầm tay. Ngoài ra, đừng hôn trẻ vào môi, hãy hôn lên trán.

– Đối với phụ nữ mang thai, con đường phổ biến nhất để lây vi-rút từ trẻ đang phát tán vi-rút qua nước tiểu và nước bọt.

Những trẻ đi nhà trẻ hoặc nhóm chơi có khả năng lây CMV từ trẻ khác”.

*Tóm lại:

Sự thiếu hiểu biết về CMV (Cytomegalovirus) nói riêng và Virus Herpes nói chung trong cộng đồng là không thể chấp nhận được, vì nó là một trong những thảm họa diệt vong và là gánh nặng của nhân loại.

———————–

Tài liệu tham khảo:

1. Lý Văn Xuân.Virus học. Nhà xuất bản y học

2. Bộ y tế. Trường ĐHYD TPHCM.Virus học. Bộ môn vi sinh

3. Hương Cát. Viện Thông tin y học Trung ương VN.CDC

4. www.occhd.org/download_file/1358/349

5. dantri.com.vn/suc-khoe/canh-bao-bau-bi-khong-nen-an-thuc-an-thua-cua-con

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 12/9/2018. 

SỐT XUẤT HUYẾT Dengue

I/. SỐT XUẤT HUYẾT Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính do virus Dengue gây nên; bênh lây theo đường máu, trung gian truyền bệnh là muỗi Aedes aegypti. Bệnh có biểu hiện lâm sàng chủ yếu là sốt cấp và xuất huyết với nhiều dạng khác nhau, nhưng thể nặng có sốc do giảm khối lượng máu lưu hành dẫn đến nguy cơ tử vong.

II/. VIRUS DENGUE thuộc nhóm Flavivirus (họ Arbovirus nhóm B hay Flaviviridae) virus Dengue có 4 type huyết thanh: 1,2,3 và 4. Có nhân ARN, có 3 gen Protein có cấu trúc Protein C (lõi), Protein M (màng), Protein (vỏ) và 7 Protein không cấu trúc. Protein E có chức năng trung hoà và tương tác với các thụ thể.

Nghiên cứu của chúng tôi tại miền Bắc VN từ năm 2012 đã cho thấy Dengue có nhiều biến dị dịch tễ học vượt khỏi tư liệu Y học hiện thời, gây ra các bệnh chứng chưa từng được mô tả.

III/. BỆNH SỐT XUẤT HUYẾT lây theo đường máu qua muỗi Aedes.

– Muỗi chủ yếu: A. aegypti ở thành thị.

– Muỗi thứ yếu: A. acbopictus ở nông thôn, trong rừng A. Polynesiensis ở Nam thái bình dương. Một số loài muỗi khác như A. Scultellaris, A. niveus, A. cooki…là trung gian truyền bệnh thứ yếu.

Aedes aegypti là muỗi vằn, sống trong nhà và ngoài trời, sinh sản thuận lợi ở những vật đọng nước gần nhà. Nhiệt độ thuận lợi cho trứng muỗi phát triển là trên 26 độ C (11- 18 ngày), ở nhiệt độ 32- 33 độ C chỉ cần 4-7 ngày. Muỗi Aedes aegypti ưa đốt người, đốt dai, đốt nhiều lần đến no máu thì thôi, đốt người chủ yếu vào ban ngày. Sau khi đốt no máu, muỗi đậu ở nơi tối, độ cao từ 2m trở xuống, bay xa được 400m.

IV/. CƠ CHẾ BỆNH SINH của sốt xuất huyết Dengue cho đến nay vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ và cũng chưa có thuốc đặc hiệu chữa sốt xuất huyết Dengue. 

Virus Dengue có thể gây nhiều thể bệnh khác nhau. Hiện nay có hai giả thuyết chính:

a/. Giả thuyết về độc lực của virus, theo giả thuyết này, các type virus Dengue có độc lực mạnh thì gây thể bệnh nặng có sốc có xuất huyết.

b/. Giả thuyết về thể tạng bệnh nhân: Bệnh nhân nhiễm virut Dengue có xuất huyết và có sốc là do tái nhiễm virut Dengue khác type và do đáp ứng miễn dịch bệnh lý của cơ thể ( HalStead SB ), giả thuyết này được ủng hộ rộng rãi.

Nghiệm chứng Y học cho thấy rằng kháng thể đối với một Serotype Dengue có phản ứng với những Serotype Dengue còn lại, nhưng không trung hoà được chúng.

V/. BÀI THUỐC ZIKA TRỊ SỐT XUẤT HUYẾT (dạng Sirop) :

1/. Cỏ nhọ nồi (cỏ mực) 20g. 

2/. Cam thảo 10g, 

3/. Đinh lăng 10g, 

4/. Chùm bao 10g, 

5/. Tần dày lá 15g, 

6/. Rau ngổ (rau om) 15g, 

7/. Dấp cá 15g

8/. Gừng tươi 12g

9/. Xạ đen 8g

10/. Mật ong 10g, 

11/. Đường 10g (hoặc muối 6g). 

* Cách làm : 

– 1 dến 9 xay nhuyễn với chút nước, vắt lấy nước. 

– 10 và 11 trộn đều vào. 

– Hỗn hợp ũ 70 độ C trong 2 đến 3 giờ bằng năng lượng mặt trời 

– Lắng bỏ cặn để thu Sirop Zika. Vào chai bằng kỹ thuật vô trùng.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 4/12/2017.