TIẾN TRÌNH ĐA GIỚI CỦA VŨ TRỤ (Phần 2)

Phần II : VŨ TRỤ ĐA GIỚI TUẦN HOÀN.

Xin nhắc lại, theo mô hình Big Bang thì khởi thủy của vũ trụ là không có gì hết, nghĩa là không có cả không gian và thời gian, chỉ có một khối lượng và tổng năng lượng cực hạn (các nhà vũ trụ học gọi nó là điểm Singularity) lớn đến nỗi bây giờ vẫn chưa thể đo đạc chính xác được.

1/. Khối lượng của vũ trụ:

Gần đây, thiên văn học phát hiện chớp sóng vô tuyến đến từ những nơi xa xôi, mang tên Fast Radio Bursts (FRB). Chúng chỉ kéo dài khoảng một miligiây và số chớp sóng được ghi nhận mới ở con số 16. Thông qua chớp sóng vô tuyến, có thể tính toán lượng vật chất mà chúng đi xuyên qua, từ đó tìm ra khối lượng của vũ trụ.

Vào ngày 18/4/2015, một chớp sóng được kính viễn vọng vô tuyến Parkes khẩu độ 64m ở Australia ghi lại. Trong vòng vài giờ sau khi tin tức lan truyền, một số kính viễn vọng khác cũng tìm kiếm tín hiệu. Kính viễn vọng Australian Telescope Compact Array xác định được vị trí của chớp sóng. Đồng thời, kính viễn vọng quang học Subaru khẩu độ 8,2m ở Đài thiên văn Quốc gia Nhật Bản cũng phát hiện chớp sóng đến từ một thiên hà cách Trái Đất 6 tỷ năm ánh sáng, theo The Guardian.

Đây là lần đầu tiên nguồn gốc cũng như khoảng cách di chuyển của FRB được đo đạc. 

Theo một số tính toán nội suy chưa chính xác, tạm tính tổng khối lượng vũ trụ vào khoảng 1,393 x 10^1153 (+/- 35%) tỷ tấn. Những đo đạc, tính toán và các công cụ khoa học mạnh khác sẽ được phát minh và cho kết quả chính xác hơn trong tương lai không xa.

2/. Các chiều không gian:

Khởi đầu của Big Bang (được ký hiệu là Bo), là Singularity kích thước bằng không (0), nên chưa có không gian + chưa có các chiều + các thước đo lượng tử + các luật vận động và chuyển hóa. 

Bo giãn nở. Rất nhiều các chiều không gian trải rộng đẳng hướng về tất cả mọi phía, vùng không gian gọi là Vũ trụ đột ngột hình thành. Mô hình vũ trụ mảng, vũ trụ mảng và vũ trụ bong bóng xuất hiện. Vật chất và năng lượng “dưới kỳ dị” tỏa ra trong không gian theo các mảng, màng và bong bóng tạo thành các “kiểu” vũ trụ cùng tồn tại với tốc độ nhanh hơn cả vận tốc ánh sáng. Vũ trụ nguội bớt, tốc độ giãn nở chậm dần làm một số chiều không gian co lại (chỉ còn 11 chiều không gian và 1 chiều thời gian ghi nhận được hiện nay) và bắt đầu pha lạm phát ở khoảng t= 1 x 10^-43s.

Trong một mảng (màng hay bong bóng) vũ trụ, nơi có chúng ta đang tồn tại hiện nay, nguội nhanh hơn “một chút” vì lý do nào đó (chưa được nghiên cứu) mà có 7 chiều không gian co lại thành hằng điểm lượng tử (đủ nhỏ đến mức chúng ta chưa có điều kiện kỹ thuật để ghi nhận và quan sát), chỉ còn lại 3 chiều không gian và 1 chiều thời gian (mở sẵn từ khi khởi đầu Big Bang), tồn tại và xác lập tương tác lực với 4 lực cổ điển (là Lực hấp dẫn + Lức điện từ + Lực tương tác mạnh + Lực tương tác yếu) và 2 lực nhận thức (là Lực siêu hạn / lực thứ 5 và Lực chân không lượng tử / lực thứ 6, mới được phát biểu trong năm 2018 này).

3/. Vũ trụ giãn nở mà không co lại:

Vũ trụ với không – thời gian 4 chiều lẽ ra phải giãn nở chậm dần đến khi dừng rồi co lại cho đến kích thước của Bo, nhưng tương quan sáng/tối của vật chất (vật chất và vật chất tối) lại thúc đẩy vũ trụ giãn nở với gia tốc Hubble ~ 464 km/s/Mpc.

Vũ trụ sẽ giãn nở đến khi vật chất ở “rìa vũ trụ đạt (và vượt) tốc độ ánh sáng chỉ trong khỏang thới gian hơn 130 tỷ năm tới mà không kịp “dừng” (cần khỏang 2000 tỷ năm để dừng). 

Đứng trên giác độ siêu vĩ mô thì vũ trụ là Siêu Giãn (không có trạng thái dừng).

Như vậy, xuất hiện nan đề : Vũ trụ giãn đến đâu ? Hay là vũ trụ giãn đến mức độ chỉ còn là những nguyên tử rời rạc, càng ngày càng cách xa trong không gian, chỉ để lại không – thời gian trống rỗng?

4/. Vũ trụ “co” tương đối tính:

Như đã phân tích ở các phần trên, vật chất đạt đến tốc độ ánh sáng hình thành Rìa Vũ Trụ. Nơi đó thời gian t = 0, các chiều không gian còn lại đều “co rút” trở về hằng điểm lượng tử. Nghĩa là ở đó vũ trụ S = Bo = 0. Cơ sở tính toán của xác lập này là các công thức của thuyết Einstein mở rộng : 

a/, L = [(căn) 1 – {v(bình phương) / c (bình phương)}] / Lo 

b/. T = [(căn) 1 – {v(bình phương) / c (bình phương)}] / To 

trong (a) và (b) thì tử số bằng không khi v (tốc độ vật chất) tiến đến c (tốc độ ánh sáng). Lúc đó L (thước đo không gian) và T (thời gian) bằng không (0). Tổng khối lượng M và Tổng năng lượng P đều không đổi và vẫn là con số khổng lồ.

Nói khác đi, rìa vũ trụ chính là “điểm kỳ dị” Singularity. Nói theo lý tính thông thường thì vũ trụ đã “co” tương đối tình về hằng điểm lượng tử Bo.

Điều kỳ dị nào đã diễn ra?

5/. Mô hình đa giới của vũ trụ:

Chúng ta dựng giản hình trực quan để hiểu hơn về vũ trụ đa giới (xem hình ảnh kèm theo).

a/. Ở điểm Big Bang bắt đầu, vũ trụ là Bo Singularity, không gian và thời gian chưa tồn tại nên không có bất cứ định luật nào được xác lập. Năng lực của vũ trụ là không có giới hạn.

b/. Vũ trụ giãn nở, các chiều không gian mở ra đẳng hướng, các thế giới mở ra, trong mỗi thế giới có một số chiều mở ra, những chiều kia vẫn khép thành hằng điểm, trong đó có thế giới chúng ta (và chúng ta chỉ quan sát thế giới này). Các định luật xuất hiện, qui chiếu và giới hạn các vận động của nó (đa giới vật lý).

c/. Sau gần 14 tỷ năm, chúng ta tồn tại trong giản hình không – thời gian này với mọi định luật, lực và thuộc tính vật lý. 

d/. Sau 108 tỷ năm, vật chất ở pha đầu tiên của giãn nở hình thành vũ trụ mà ta gọi là Big Bang sẽ đạt tốc độ ánh sáng để hình thành Rìa Vũ Trụ. Các chiều không gian và thời gian của vũ trụ co lại về không. Mọi định luật biến mất, tương quan nhân quả bị đảo lộn. Đó là giới hạn không thể vượt qua (đa giới tương đối tính).

Diễn tả theo nhận thức trực quan thì vũ trụ “lùi” trên trục thời gian để trở về quá khứ, còn không gian thì co lại để đạt trạng thái vi mô, rồi siêu vi mô, cuối cùng là hằng điểm lượng tử Bo.

Một quan sát viên trên chặng đường “quay về Singularity” sẽ không thể ghi nhận được quá trình, vì mọi thước đo đều vô giá trị.

e/. Vũ trụ Singularity lúc bấy giờ chui qua đường hầm vũ trụ với t = 0, l = 0, cung cấp thuộc tính hằng điểm lượng tử cho Bo ở chu kỳ đa giới trước.

6/. Tóm lại về vũ trụ đa giới:

– Vũ trụ trong nhận thức của con người hiện nay chì là một thời điểm trong tiến trình vũ trụ đa giới. Tuy nhiên Khoa học Lượng Tử có thể tính toán, phán đoán và giải mật quá trình đa giới đó.

– Do Bo là trạng thái hằng điểm lượng tử, chưa có không – thời gian và thuộc tính vật chất nên chưa có Luật Bảo toàn Năng Lượng (và vật chất), do đó không có gì để vi phạm. Các luật tương đối tính chưa được xác lập (vì ánh sáng cũng chưa có) nên vận tốc giãn nở của vũ trụ vượt tốc độ ánh sáng là chuyện “bình thường”.

– Trạng thái vũ trụ hỗn loạn ban đầu ở thời điểm sau Bo ngày càng được ổn định dần, cho đến trạng thái ổn định siêu hạn Bo cho thấy tiến trình vũ trụ đa giới phù hợp hoàn toàn với định luật Entropy.

– Vũ trụ đa giới là quá trình tuần hoàn.

——- 

Xem lại  Phần I : TIẾN TRÌNH ĐA GIỚI CỦA VŨ TRỤ 

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 29/12/2018.

TIẾN TRÌNH ĐA GIỚI CỦA VŨ TRỤ (Phần 1)

Hỏi :  Hoàng Sa

Ở rìa vũ trụ, nơi đó mọi kích thước bằng không, nghĩa là vũ trụ co thành một điểm lượng tử có khối lượng khổng lồ, năng lượng và mật độ cực hạn, chẳng lẽ là để chuẩn bị một vụ nổ lớn tiếp theo? Nơi đó ở đâu?

Đáp : Wambua Dominic

Câu hỏi này, bản chất là câu hỏi về tiến trình đa giới của vũ trụ. Nội hàm khoa học của câu hỏi quá lớn, không đủ chỗ để trả lời chỉ trong một comment.

Phần I : BIG BANG LÀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA VŨ TRỤ.

1/. Xuất hiện mô hình Big Bang:

a- Tiến trình của vũ trụ là một vấn đề lớn mà cho đến nay, các ngành khoa học kỹ thuật và xã hội cũng như triết học đều rất mơ hồ, hoang mang, thậm chí phát biểu linh tinh kiểu “hóng hớt” mà không có một chút lý luận hay tính toán khả tín nào. Trong đó thuyết Big Bang (Vụ nổ lớn hình thành vũ trụ) là một lý thuyết khoa học đã được kiểm chứng và được cộng đồng khoa học chấp nhận rộng rãi, có nhiều bằng chứng thực nghiệm để củng cố vị trí của nó. Đặc biệt là việc ghi nhận và đo lường được bức xạ nền vi sóng vũ trụ tàn dư từ 13,8 tỷ năm trước (phát hiện ra vào năm 1964), và đặc biệt khi phổ của nó (lượng bức xạ đo được ứng với mỗi bước sóng) được phát hiện phù hợp với bức xạ vật đen. Từ đó, các nhà thiên văn vật lý đã kết hợp những dữ liệu lớn trong quan sát và đưa thêm những tính toán lý thuyết vào mô hình Vụ Nổ Lớn, và mô hình tham số của nó hay mô hình Lambda-CDM trở thành khuôn khổ lý thuyết cho những nghiên cứu hiện đại về vũ trụ học càng chứng tỏ lý luận về Big Bang là đáng tin cậy.

b- Nhà vũ trụ học và là linh mục Georges Lemaître là người đầu tiên đề xuất lý thuyết Vụ Nổ Lớn trong nghiên cứu của ông về “giả thuyết về nguyên tử nguyên thủy”. Sau nhiều năm, các nhà vật lý dựa trên ý tưởng ban đầu của ông, xây dựng lên các lý thuyết khác nhau và được tổng hợp lại thành lý thuyết Big Bang hiện đại. Khuôn khổ cho lý thuyết Vụ Nổ Lớn dựa trên thuyết tương đối rộng của nhà vật lý Đức Albert Einstein và trên giả thiết đơn giản về tính đồng nhất và đẳng hướng của không gian. Dựa vào phương trình trường Einstein, nhà vũ trụ học Alexander Friedmann đã tìm ra được các phương trình chi phối sự tiến hóa của vũ trụ.

c- Mô hình vũ trụ của thuyết Big Bang là, từ khởi thủy cách nay 13,8 tỷ năm, xuất hiện một điểm lượng tử kích thước bằng không, có khối lượng và năng lượng cực lớn. Điểm lượng tử đó giãn nở với tốc độ khủng khiếp và được xem là vụ nổ lớn, vũ trụ “bung” ra đẳng hướng (tăng cả thước đo không gian lẫn vật thể) có gia tốc. Sau 13,8 năm thì vũ trụ có độ rộng lớn như hiện nay và vẫn đang gia tốc giãn nở. 

Sự giãn nở của vũ trụ, trạng thái cực nóng lúc sơ khai, sự hình thành của heli, và sự hình thành các thiên hà— được suy luận ra từ những quan sát khác độc lập với mọi mô hình vũ trụ học. Các nhà vật lý biết rằng khoảng cách giữa các đám thiên hà đang tăng lên, và họ lập luận rằng mọi thứ đã phải ở gần nhau hơn khi trở về quá khứ. Ý tưởng này đã được xem xét một cách chi tiết khi quay ngược trở lại thời gian đến thời điểm vật chất có mật độ và nhiệt độ cực cao.

d- Sự giãn nở là ở bản chất của không gian giãn nở, chứ không phải là vật chất và năng lượng “nở ra” vào một không gian cố định trước đó. 

Tại thời điểm t= 1 x 10^-43s: Vũ trụ là vô cùng nhỏ bé, dày đặc và có nhiệt độ rất cao. Các nhà khoa học ước tính, lúc này vũ trụ chỉ kéo dài trên 1 khoảng 1 x 10^-33 cm – so với không gian trải dài hàng tỷ năm ánh sáng như ngày nay. Trong giai đoạn này, vật chất và năng lượng là không thể tách rời. Bốn lực cơ bản của vũ trụ trở thành một lực thống nhất. Và nhiệt độ của vũ trụ lúc này ước tính vào khoảng 10^32 độ C.

Khoảng xấp xỉ thời điểm 10^−36 giây trong giai đoạn giãn nở, một sự chuyển pha là nguyên nhân gây ra sự giãn nở lạm phát của vũ trụ, khi thể tích của vũ trụ mở rộng tăng theo hàm mũ diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn đến thời điểm giữa 10^−33 và 10^−32 giây. Sau giai đoạn lạm phát, kích thước vũ trụ đã tăng lên gấp 10^30 so với kích thước ban đầu.

e- Khi giai đoạn lạm phát kết thúc, vũ trụ lúc này chứa pha vật chất plasma quark–gluon, cũng như các hạt cơ bản khác. Nhiệt độ lúc này vẫn rất cao do vậy chuyển động ngẫu nhiên của các hạt là chuyển động với vận tốc tương đối tính, và sự sinh các cặp hạt – phản hạt liên tục tạo ra và hủy các cặp hạt này trong các va chạm. Ở một thời điểm chưa được biết chính xác, các nhà vật lý đề xuất tồn tại một pha gọi là “nguồn gốc phát sinh baryon” (baryongenesis) trong đó các phản ứng giữa vật chất và phản chất có sự vi phạm định luật bảo toàn số baryon, dẫn đến sự hình thành một lượng dư thừa rất nhỏ các hạt quark và lepton so với lượng phản quark và phản lepton— với tỷ lệ khoảng một hạt vật chất dư ra trên 30 triệu phản ứng. Kết quả này dẫn đến sự vượt trội về vật chất so với phản vật chất trong vũ trụ ngày nay.

f- Vũ trụ tiếp tục giảm nhiệt độ và mật độ, hay động năng của các hạt tiếp tục giảm (những sự giảm này là do không thời gian tiếp tục giãn nở). Hiện tượng phá vỡ đối xứng ở giai đoạn chuyển pha đưa đến hình thành riêng rẽ các tương tác cơ bản của vật lý và những tham số của các hạt sơ cấp mà chúng có như ngày nay. Sau khoảng 10^−11 giây, do năng lượng của các hạt giảm xuống giá trị mà các nhà vật lý hạt có thể đánh giá và đo được trong các thí nghiệm trên máy gia tốc. Đến 10^−6 giây, hạt quark và gluon kết hợp lại thành baryon như proton và neutron. Một lượng dư thừa quark so với phản quark dẫn đến hình thành lượng baryon vượt trội so với phản baryon. Nhiệt độ lúc này không đủ cao để phản ứng sinh cặp proton–phản proton xảy ra (và tương tự cho sinh cặp neutron–phản neutron), do vậy sự hủy khối lượng ngay lập tức xảy ra để lại đúng 1 hạt trong 10^10 hạt proton và neutron, và không hạt nào có phản hạt của chúng. Một quá trình tương tự diễn ra khoảng 1 giây cho cặp hạt electron và positron. Sau quá trình hủy cặp hạt-phản hạt, vũ trụ chỉ còn lại các proton, neutron và electron và những hạt này không còn chuyển động với vận tốc tương đối tính nữa và mật độ năng lượng của Vũ trụ chứa chủ yếu photon (với một lượng nhỏ là đóng góp của neutrino).

g- Một vài phút sau sự giãn nở, khi nhiệt độ lúc này giảm xuống 1 tỷ (10^9; SI) Kelvin và mật độ tương đương với mật độ không khí, lúc này hạt neutron kết hợp với proton để hình thành lên hạt nhân deuteri và heli trong quá trình gọi là phản ứng tổng hợp hạt nhân. Hầu hết những proton không tham gia phản ứng kết hợp trở thành proton tự do và chính là hạt nhân của nguyên tử hiđrô. Vũ trụ tiếp tục lạnh đi, mật độ năng lượng và khối lượng nghỉ của vật chất lấn át về lực hấp dẫn so với bức xạ photon. Sau khoảng 379.000 năm, nhiệt độ vũ trụ lúc này khoảng 3.000 K, electron và hạt nhân bắt đầu kết hợp lại với nhau tạo nên nguyên tử (chủ yếu là hiđrô); và bức xạ photon không tương tác với electron tự do, nó không còn bị cản trở bởi plasma và lan truyền tự do trong không gian. Bức xạ tàn dư này chính là bức xạ phông vi sóng vũ trụ.

h- Sau khoảng 56.000 năm, nhiệt độ vũ trụ đã hạ xuống chỉ còn khoảng 9000 độ C, và tại thời điểm này, mật độ vật chất của vũ trụ đã bắt đầu phù hợp với mật độ bức xạ. Trải qua khoảng 300.000 năm nữa, nhiệt độ chỉ còn là 3000 độ C, và cuối cùng, proton và electron đã có thể kết hợp với nhau để tạo ra các nguyên tử Hydro đầu tiên. Bốn lực cơ bản của vũ trụ xác lập (bao gồm lực Hấp dẫn + Lực điện từ + Lực tương tác mạnh và Lực tương tác yếu).  Gần đây, sự phát hiện và phân tích Lực vũ trụ thứ 5 (SupperPower) của Attila Krasznahorkay năm 2018, có khả năng soi sáng bí ẩn của vật chất tối (và năng lượng tối), góp phần làm sáng tỏ những gì diễn ra sau pha vũ trụ lạm phát đến nay (và trong vài chục tỷ năm tới).

i- Khoảng 380.000 năm sau Big Bang, ánh sáng đã xuất hiện. Bức xạ nền vi sóng vũ trụ đã hình thành, và với việc nghiên cứu những bức xạ này, giờ đây con người đã có thể phác thảo lại hình ảnh vũ trụ từ thuở sơ khai ban đầu. 

Cho đến khoảng 100 triệu năm sau hoặc lâu hơn thế, vũ trụ vẫn tiếp tục giãn nở và được làm mát. Một vài biến động nhỏ về lực hấp dẫn sẽ khiến cho các phần tử vật chất co cụm lại với nhau, chúng trở nên dày đặc hơn, và nóng hơn, và sau khoảng 1 đến 2 trăm năm, các ngôi sao ra đời.

Khi một ngôi sao nào đó già cỗi đi và phát nổ, những mảnh vật chất sẽ bắn đi khắp vũ trụ, và tạo nên những nguyên tố nặng mà ta có thể tìm thấy trong tự nhiên (những nguyên tố có khối lượng trên Uranium). Những dải thiên hà bắt đầu hình thành nên các cụm riêng, và dải thiên hà của chúng ta được hình thành từ cách đây khoảng 4.6 tỷ năm.

j- Vào năm 1920, nhà thiên văn học Edwin Hubble đã phát hiện ra một điều rất lý thú: Vận tốc xuất hiện của một ngôi sao tỷ lệ thuận với khoảng cách của nó từ Trái đất. Nghĩa là, một ngôi sao ở càng xa Trái đất thì sẽ di chuyển càng nhanh ra xa chúng ta. Với giả thuyết này, một lần nữa Hubble khẳng định rằng vũ trụ đang tiếp tục giãn nở.

Phát hiện của Hubble đưa đến một cuộc tranh cãi vẫn tiếp diễn đến ngày nay: Chính xác thì mối quan hệ giữa vận tốc và khoảng cách của một ngôi sao là gì? Các nhà khoa học gọi đây là hằng số Hubble, và Hubble đưa ra giả thuyết rằng nó vào khoảng 464 km/s/Mpc. Mpc – viết tắt của Megaparsec là một đơn vị khoảng cách tương ứng với 3.08 x 10^22m.

2/. Khai tử mô hình Vũ Trụ Dừng:

Sự diễn đạt thành công và phù hợp với thực nghiệm của thuyết Big Bang đã khai tử mô hình vũ trụ dừng (nghĩa là quan điểm từ khởi thủy, vũ trụ đã rộng lớn và chứa vật thể như hiện nay, các thiên hà đều là những ốc đảo chơi vơi trong khoảng không gian vũ trụ vô cùng vô tận). 

——— 

Xem tiếp Phần II : VŨ TRỤ ĐA GIỚI TUẦN HOÀN.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 27/12/2018.

VŨ TRỤ ĐA CHIỀU – KHÔNG THỜI GIAN ĐA CHIỀU (Phần 2)

Phần II: CẤU TRÚC THẬT SỰ CỦA VŨ TRỤ

1/. Vũ trụ giãn nở:

Trong phần I, chúng ta đã điểm qua một số những quan sát vũ trụ học, cho thấy qui mô kinh khủng của vũ trụ Khả kiến. Nhưng vũ trụ (khả kiến) tồn tại có kích thước tới hạn (giới nội) hay nó không thể có số đo kích thước nào (vô hạn)?

– Từ thời cổ đại, những nhà Triết học (và sau đó là Tôn giáo) cố gắng biểu đạt vũ trụ mà không có (và không thể có) chứng lý nào. Lúc thì cho vũ trụ như một cái lồng câu vài trăm triệu kilomet và trái đất là trung tâm của cái lồng cầu đó. Thế kỷ XVII – XVIII, sự phát triển của kính thiên văn quang học (và thiên văn học) cho phép nhìn xa hơn vào vũ trụ, càng sâu càng xa mà không tìm được bến bờ. Kinh hoàng trước sự rộng lớn của vũ trụ, giới Triết học cận đại dám viết “vũ trụ là vô cùng vô tận” (Karl Marx).

– Năm 1912 Vesto Slipher đo dịch chuyển Doppler của “tinh vân xoắn ốc” (thời đó người ta chưa biết tinh vân xoắn ốc là các thiên hà), và ông sớm phát hiện ra đa số các tinh vân này đang lùi ra xa Trái Đất.

Từ đó nhân loại biết được vũ trụ đang GIÃN NỞ, khác hẳn với nhận định chủ quan là vũ trụ DỪNG (tĩnh tại) mà trong đó các thiên hà là những ốc đảo trơ vơ trong vũ trụ. Fred Hoyle là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ Big Bang năm 1949 trên một chương trình radio của BBC. Hoyle là người ủng hộ “Thuyết trạng thái dừng” của vũ trụ, và ông đưa ra thuật ngữ này để ví von khôi hài mô hình lý thuyết của những người khác về vũ trụ giãn nở. Nhưng những thực nghiệm về sau ngày càng chứng minh và củng cố cho hình ảnh một vũ trụ giãn nở.

– Sự phát hiện “bức xạ phông nền vũ trụ” (bức xạ tàn dư sau vụ nổ lớn) và hằng số Planck (hằng số vũ trụ hay hằng số vũ trụ học, là dạng mật độ năng lượng đồng nhất gây ra sự giãn nở gia tốc của vũ trụ) củng cố sự chân xác của Big Bang và mô hình VŨ TRỤ GIÃN NỞ.

Nhưng vũ trụ giãn nở đến đâu ? hay là vũ trụ thật sự vô hạn?

2/. Đo lường vũ trụ:

– Hàn lâm viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã trao giải Nobel Vật lý 2011 cho ba nhà khoa học : Saul Perlmutter, Brian P. Schmidt và Adam G. Riess. Họ đã nghiên cứu thận trọng nhiều siêu tân tinh (supernovae), trong nhũng thiên hà xa xôi và kết luận rằng VŨ TRỤ ĐANG GIÃN NỞ CÓ GIA TỐC.

Nguyên nhân để vũ trụ giãn nở có gia tốc đang được cho là do năng lượng tối và vật chất tối, chiếm tỷ lệ tuyệt đối trong vũ trụ, nhưng nhân loại thì chưa có phương tiện tiếp cận năng lượng (và vật chất) tối này.

– Nghĩa là trong một thời điểm tương lai, các vật thể giãn nở đạt đến tốc độ ánh sáng ở RÌA VŨ TRỤ. Theo công thức 

L = [(căn) 1 – {v(bình phương)/c (bình phương)}]/Lo 

thì khi v (tốc độ vật thể) tiến tới c (tốc độ ánh sáng), tử số bằng không, do đó L cũng bằng không, mọi thước đo không tồn tại. Đó chính là biên giới của vũ trụ.

– Các quan sát của Planck được công bố năm 2013, đã lập bản đồ chi tiết chưa từng có và tiết lộ rằng tuổi của vũ trụ là 13.82 tỷ năm.

Như vậy, không quá khó để tính toán được bán kính cũa vũ trụ vào khoàng 2200 tỷ năm ánh sáng. Chúng ta kết luận rằng VŨ TRỤ GIỚI NỘI. Nói khác đi, vũ trụ là có giới hạn.

3/. Mô hình không gian đa chiều của vũ trụ :

Tóm lại, chúng ta thấy vũ trụ rất to lớn đến mức ngoài mọi sự tưởng tượng của nhân loại, nhưng cũng có giới hạn. Vậy thì vũ trụ hiện nay chúng ta đang cảm thụ được, nó tạo ra bằng cái gì ?

– Năm 1968, Gabriele Veneziano, một nhà vật lý người Ý, làm việc tại trung tâm hạt nhân châu Âu, CERN, có một phát hiện lạ lùng. Veneziano nhận thấy rằng công thức toán học của Leonard Euler xây dựng trước đó hơn hai trăm năm với tên gọi là Hàm Beta Euler, mô tả được nhiều tính chất của các hạt tham gia trong tương tác mạnh. Phát hiện của Veneziano đã thâu tóm một cách rất hiệu quả bằng toán học nhiều đặc trưng của tương tác mạnh, nhằm sử dụng hàm Beta và các dạng tổng quát hóa của nó để mô tả một chuỗi những dữ liệu thu được từ thực nghiệm. Hàm Beta Euler sau đó được sử dụng rất hiệu quả, nhưng không một ai khi ấy hiểu được tại sao.

– Mãi tới năm 1970, những công trình của Yoichiro Nambu ở Đại học Chicago, Holger Nielsen thuộc Viện Niels Bohr và Leonard Susskin ở Đại học Stanford mới chỉ ra được ý nghĩa vật lý ẩn sau công thức Euler. Họ đã chứng minh được rằng, nếu một hạt sơ cấp được mô hình hóa như các dây nhỏ bé một chiều dao động, thì tương tác mạnh của chúng có thể được mô tả chính xác bởi hàm Beta Euler. Theo lập luận của họ, nếu các dây này đủ nhỏ thì chúng vẫn được xem là các hạt điểm và do vậy phù hợp với những quan sát thực nghiệm. 

– Năm 1974, Schwarz và Joel Scherk ở trường Cao đẳng sư phạm Paris đã nghiên cứu đặc điểm của những mốt dao động và nhận thấy rằng những tính chất này phù hợp tuyệt đối với hạt truyền tương tác giả định của trường hấp dẫn, có tên là graviton. Lý thuyết dây không chỉ dừng lại như là một thuyết của tương tác mạnh, mà nó còn là một thuyết hấp dẫn lượng tử, thống nhất thuyết tương đối rộng của Einstein và cơ học lượng tử vào làm một.

– Trên cơ sở đó, lý thuyết dây vạch ra rằng CHÂN VŨ TRỤ có 11 chiều không gian cơ sở. Một vũ trụ được ghép bằng tổ hợp một số chiều không gian (số chiều không gian > 1). Vũ trụ khả kiến của chúng ta chỉ là một Không – thời gian 4 chiều trong cái CHÂN VŨ TRỤ mà thôi.

Wowww, như vậy thì trong cái không gian vũ trụ “nhỏ bé” đường kính 2200 tỷ năm ánh sáng này chứa được rất nhiều vũ trụ nhưng chúng ta đang chỉ thấy có một.

————

Xin xem chùm bài TIẾN TRÌNH ĐA GIỚI CỦA VŨ TRỤ để hỗ trợ tri thức của Phần II này.

—————

Xem tiếp phần III : ĐA VŨ TRỤ 

—————

Xem lại Phần I : CẤU TRÚC SIÊU VĨ MÔ CỦA VŨ TRỤ KHẢ KIẾN.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 25/12/2019.

VŨ TRỤ ĐA CHIỀU – KHÔNG THỜI GIAN ĐA CHIỀU (Phần 1)

Không gian đa chiều và các vũ trụ trong không gian đa chiều là một trong những phát hiện lớn của Lượng Tử Học, mà trực tiếp là Cơ Học Lượng Tử. Muốn nhận thức về nó, phải tiếp cận nhận thức về vũ trụ, trong đó có Vũ trụ Khả Kiến (có thể ghi nhận, cân đong đo đếm được) và Vũ Trụ Nhận Thức (chưa ghi nhận, cân đong đo đếm được trong điều kiện hiện nay) bằng các lý giải khoa học từ thấp đến cao, từ Khoa học cổ điển đến Khoa Học Lượng Tử.

Hãy đọc chùm bài dưới đây (4 phần) để tiếp cận.

—————–

Phần I : CẤU TRÚC SIÊU VĨ MÔ CỦA VŨ TRỤ KHẢ KIẾN.

Từ ngữ vũ trụ, gợi liên tưởng đến kích thước khổng lồ vượt khỏi mọi hình dung cũa con người, do đó mà có nhiều nhận định khác nhau về cấu trúc vũ trụ.

– Người Hy Lạp cổ đại và các nhà triết học thời Trung Cổ tin vào mô hình vũ trụ địa tâm (geocentric model) (trong tiếng Hy Lạp: geo = Trái Đất kentron = trung tâm) cho rằng Trái Đất là trung tâm của vũ trụ và Mặt trời cùng các thiên thể khác quay quanh nó (khác với mô hình Trái Đất phẳng trong một số thần thoại). 

Quan điểm này thống trị văn hoá phương tây cho tới tận trước thế kỷ 17.

– Từ cuối thế kỷ 16 trở về sau, mô hình vũ trụ địa tâm dần dần bị thay thế bởi nhận thức hệ vũ trụ nhật tâm của Copernicus, Galileo và Kepler. Aristarchus xứ Samos đã đưa ra một mô hình nhật tâm của hệ mặt trời, nhưng rõ ràng ông ở phe thiểu số tin rằng Trái Đất không nằm ở trung tâm.

– Sự phát triển của kỹ thuật quang học và kính thiên văn vào thế kỷ 18 về sau cho phép con người nhìn xa hơn vào không gian rộng lớn, nhìn thấy được dải sáng trong đêm trên bầu trời thăm thẳm không phải là dòng sông bạc (Ngân hà) hay còn gọi là Thiên Hà, Sông Ngân, mà là thiên hà hợp thánh bởi hàng tỷ ngôi sao, chứa Hệ Mặt Trời của chúng ta. 

Ngân Hà xuất hiện trên bầu trời như một dải sáng mờ kéo dài từ chòm sao Tiên Hậu (Cassiopeia) ở phía bắc đến chòm sao Nam Thập Tự (Crux) ở phía nam, và sáng nhất ở chòm sao Cung Thủ (Sagittarius) – trung tâm của dải Ngân Hà. Ngân Hà có đường kính dao động từ khoảng 100,000 đến 180,000 năm ánh sáng.

– Galileo Galile đã lần đầu quan sát được các ngôi sao riêng biệt trong Ngân Hà vào năm 1610 bằng kính viễn vọng của mình. Tuy nhiên, cho tới tận những năm 80 thế kỉ XIX, các nhà thiên văn học vẫn cho rằng toàn bộ vũ trụ mà con người biết lúc bấy giờ đều chứa trong Ngân Hà.

– Đến khi có cuộc tranh luận lớn nổ ra giữa Harlow Shapley và Heber Curtis, cùng với Edwin Hubble đã chứng minh được Ngân Hà chỉ là một trong số rất rất nhiều thiên hà khác. Cuối thế kỷ XIX, con người nhìn thấy được Thiên hà Tiên Nữ, (hay tinh vân Tiên Nữ, thiên hà Andromeda) và các tên như Messier 31, M31 hay NGC 224, là thiên hà xoắn ốc có vị trí biểu kiến thuộc chòm sao Tiên Nữ nằm ở bầu trời phía bắc gần chòm sao Phi Mã. Andromeda là thiên hà xoắn ốc gần dải Ngân Hà của chúng ta nhất, cách khoảng 2,5 triệu năm ánh sáng.

Những hình ảnh đầu tiên về thiên hà Andromeda được Isaac Roberts ghi lại bằng kính thiên văn riêng ở Sussex (Anh) vào năm 1887. Và cấu trúc xoắn ốc của M31 lần đầu tiên được phát hiện. Tuy nhiên, vào thời điểm đó thiên thể này vẫn còn được xem là một tinh vân trong thiên hà của chúng ta, và Roberts đã cho rằng M31 và những tinh vân xoắn ốc khác là những đĩa tiền hành tinh đang hình thành.

Thiên hà Andromeda đang tiến về dải Ngân Hà của chúng ta với vận tốc khoảng 300 km/giây (186 dặm/giây). Vận tốc này được Vesto Slipher đo vào năm 1912 tại đài thiên văn Lowell bằng quang phổ học. Đó là vận tốc lớn nhất từng được biết đến thời bấy giờ.

– Thiên hà Andromeda từng được xem là thiên hà lớn nhất trong nhóm các thiên hà Địa Phương (Local Group), bao gồm thiên hà Andromeda, dải Ngân Hà, thiên hà Triangulum (trong chòm sao Tam Giác) và khoảng 30 thiên hà nhỏ khác. Do những khám phá gần đây dựa trên các phương pháp đo lường tiên tiến và những dữ liệu mới, mà hiện tại các nhà khoa học tin rằng dải Ngân Hà chứa nhiều vật chất tối hơn Andromeda và có thể là thiên hà có khối lượng lớn nhất trong nhóm Địa Phương. Tuy nhiên, những quan sát gần đây của kính viễn vọng không gian Spitzer lại cho thấy rằng M31 chứa khoảng một ngàn tỉ (10^12) sao, vượt xa con số các vì sao trong dải Ngân Hà. Các ước tính vào năm 2006 cho thấy khối lượng của dải Ngân Hà vào khoảng ~80% khối lượng của thiên hà Andromeda, tức là khoảng 7,1×10^11 lần khối lượng Mặt Trời.

– Vào năm 1920, cuộc Tranh Cãi Lớn diễn ra giữa Harlow Shapley và Heber Curtis liên quan tới bản chất của dải Ngân Hà, các tinh vân xoắn ốc, và các chiều của vũ trụ. 

Edwin Hubble kết thúc cuộc tranh cãi vào năm 1925 khi ông lần đầu tiên xác định được các sao biến quang Cepheid trong M31, và đồng thời cũng giúp xác định được khoảng cách tới thiên hà này. Những hình ảnh của các sao biến quang này được chụp nhờ vào một kính viễn vọng phản xạ đường kính 2,5 m. Các đo đạc của ông cho phép kết luận rằng M31 không phải là một cụm sao và khí trong dải Ngân Hà mà là một thiên hà độc lập cách chúng ta rất xa. Những bản đồ vô tuyến đầu tiên của thiên hà Andromeda do John Baldwin và các cộng sự trong nhóm thiên văn vô tuyến Cambridge tạo ra vào thập niên 1950. Nhân thiên hà Andromeda được đặt tên là 2C 56 trong cuốn mục lục Cambridge thứ hai về các nguồn sóng vô tuyến (2C). Vùng tâm của thiên hà M31 hiện được cho là có tập trung nhiều lỗ đen xung quanh lỗ đen siêu khổng lồ ở tâm.

Vào thập niên 1990, các dữ liệu của vệ tinh Hipparcos được dùng để xác định khoảng cách của các Cepheid. Các giá trị được chỉnh sửa cho thấy Andromeda cách chúng ta 2,9 triệu năm ánh sáng.

– Sự phát triển của kính thiên văn quang phổ rồi kính thiên văn vô tuyến cho thấy qui mô vũ trụ ngày càng  lớn “đến mức khủng khiếp” tạo nên những nhận thức cực đoan. Từ chỗ cho rằng vũ trụ chỉ nằm trong một “cái lồng cầu” đường kính vài trăm triệu Kilomet, một số các triết gia dở hơi “phang” luôn rằng “vũ trụ là vô cùng vô tận”.

—————–

Xem tiếp Phần II : CẤU TRÚC THẬT SỰ CỦA VŨ TRỤ

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 22/12/2018.

LÝ DO ĐỂ VŨ TRỤ TỒN TẠI

Từ khởi thủy của vũ trụ với một vụ nổ lớn (Big Bang) cách đây 13,5 tỷ năm thì vật chất và phản vật chất hoàn toàn cân bằng ở mọi khía cạnh (số lượng, năng lượng, động lượng, các lực lượng tử v.v…). Về mặt lý luận năng lượng lượng tử, hai cá thể vật chất và phản vật chất gặp nhau thì hút nhau mãnh liệt bằng lực tĩnh điện + từ lực lượng tử và hoàn toàn biến thành năng lượng (vụ nổ ở mọi cấp độ và qui mô vật lý). Do đó sự cân bằng tuyệt đối giữa vật chất và phản vật chất đưa đến hiệu quả tất yêu là cả hai đều không tồn tại.

Nghĩa là vũ trụ không có lý do để tồn tại như hiện nay. Nói khác đi, sự tồn tại của vũ trụ như hiện nay là phi lý tính, là bí ẩn khó giải đoán.

Nhiều trường phài Khoa học tìm cách giải thích sự tồn tại “phi lý” này của vũ trụ:  

– Vũ trụ đã bất đối xứng từ khởi thủy (nghĩa là cứ n phản hạt thì có n+1 hạt, do đó mà vũ trụ hiện tại là tồn dư của các vụ nổ phản hạt từ Big Bang. Tuy nhiên như thế thì lẽ ra phản hạt và phản vật chất không thể tồn tại trong khi chúng vẫn đang tồn tại).

– Vật chất và phản vật chất khác nhau về từ tính (giả thuyết này nhanh chóng phá sản vì các thí nghiệm Lượng Tử gần nhất cho thấy hạt và phản hạt hoàn toàn không khác nhau về spin và từ tính) hoặc chúng khác nhau về cách thăng – giáng Lượng Tử đối với lực hấp dẫn (nghĩa là vật chất tiến đến gần nguồn lực hấp dẫn còn phản vật chất thì tách xa khỏi nguồn hấp dẫn. Giả thuyết này cũng phá sản vì các đo lường ở CERN/Âu Châu cho thấy không có sự sai khác này).

– Ghi nhận gần đây về Vật Chất Tối cho thấy “hình như” vật chất và phản vật chất đáp ứng hoàn toàn khác nhau với tác động của Vật chất tối và năng lượng tối.

Nói khác đi, nhân loại đã tìm được căn nguyên để vật chất và phản vật chất có sai khác, và đó chính là nguyên nhân để vũ trụ tồn tại như hiện nay.

Tuy nhiên, oái oăm ở chỗ là chúng ta chưa biết được bất cứ thứ gì về vật chất tối và năng lượng tối, ngoài việc biết rằng vật chất tối và năng lượng tối chiếm tuyệt đại đa số trong vũ trụ (95% vũ trụ).

Các khái niệm:

1/. Hạt: là thành phần căn bản nhất của thế giới vật chất, là cơ sở tồn tại của vật chất và năng lượng. Khác với kiến thức cơ sở chỉ có 3 loại hạt chính là Proton, Electron và Neutron, thì Khoa Học Lượng Tử liệt kê đến hơn 300 loại hạt, chia làm hai nhóm : Hạt Sơ Cấp và Hạt Lý Thuyết.

a/. Hạt Sơ Cấp (khoảng 240): bao gồm các nhóm 

– Fermion: Fermion là nhóm các hạt có spin bán nguyên, tuân theo thống kê Fermi–Dirac và Nguyên lý loại trừ Pauli.

– Quark: Quark là thành phần cơ bản tạo nên các hạt tổ hợp hadron, bao gồm sáu loại phân chia theo hướng: quark lên, quark xuống, quark duyên, quark lạ, quark đỉnh và quark đáy. Do sự giam hãm màu, các hạt quark không tồn tại riêng lẻ mà luôn ở dạng kết hợp cấu thành các hạt khác.

– Lepton: Nhóm lepton gồm 12 hạt có spin bán nguyên không tham gia trong tương tác mạnh: Điện tử và Positron, Muyon và phản Muyon, Tauon và phản Tauon, 3 hạt Neutrino (νe, νμ và ντ) và 3 phản hạt của chúng (νe, νμ và ντ).

– Boson: Boson là nhóm các hạt sơ cấp có spin nguyên, tuân theo thống kê Bose-Einstein, bao gồm các hạt mang tương tác điện từ (Photon), tương tác yếu (Boson W và Z), tương tác mạnh (Gluon), tương tác hấp dẫn (Graviton) và hạt Higgs.

b/. Hạt Lý Thuyết: Lý thuyết siêu đối xứng dự đoán sự tồn tại của hạt Lý Thuyết nhiều hơn cả tổng lượng hạt Sơ Cấp, và vẫn đang chờ thực nghiệm xác định sự tồn tại của nó.

2/. Vật chất tồn tại do sự ghép các hạt vào trong cấu trúc cơ sở rất đa dạng gọi là các nguyên tử (Atoms); các nguyên tử kết hợp bằng rất nhiều dạng tạo thành Phân tử. Phân tử là một nhóm trung hòa điện tích có nhiều hơn 2 nguyên tử liên kết với nhau bằng các liên kết hóa học. Phân tử được phân biệt với các ion là do chúng không có tích điện. Nguyên tử của phân tử có thể từ một nguyên tố (đơn chất, ví dụ: O2, H2, P4,…) hay nhiều nguyên tố hóa học (hợp chất, như H2O, NH3, CaCO3,…). Các phân tử + các nguyên tử + chân không tạo thành thế giới vật chất.

3/. Phản Vật Chất: là khái niệm vật lý, là tồn tại được cấu tạo từ những phản hạt cơ bản như phản proton, phản electron, phản neutron,…

a/. Thông qua các bước tính toán phức tạp, Dirac đã vạch định ra hướng để tổng quát hóa hai thuyết hoàn toàn riêng rẽ là Cơ Học Lượng Tử và Thuyết Einstein mở rộng. Ông đã giải thích việc làm sao mọi vật càng nhỏ thì vận tốc càng lớn; trong trường hợp đó, các electron có vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng. Đó là một thành công đáng kể, nhưng Dirac không chỉ dừng lại ở đó, ông nhận ra rằng các bước tính toán của ông vẫn hợp lệ nếu electron vừa có thể có điện tích âm, vừa có thể có điện tích dương – đây là một kết quả ngoài tầm mong đợi.

b/. Dirac biện luận rằng, kết quả khác thường này chỉ ra sự tồn tại của một  “phản hạt” của electron, chúng hình thành nên một “cặp ma quỷ”. Trên thực tế, mọi hạt đều có “đối hạt” của nó, cùng với những tính chất tương đồng, duy chỉ có sự đối lập về mặt điện tích. Và giống như proton, neutron và electron hình thành nên các nguyên tử và vật chất, các phản proton, phản neutron, positron (còn được gọi là phản electron) hình thành nên phản nguyên tử và phản vật chất. Nghiên cứu của ông dẫn đến một suy đoán rằng có thể tồn tại một “Phản Vũ trụ” cấu tạo bởi phản vật chất.

c/. Một trong những hiểu biết mang tính kịch bản đó là vật chất và phản vật chất kết hợp lại sẽ tạo ra một vụ nổ lớn. Giống như những cặp tình nhân gặp nhau trong ngày sau cùng vậy, vật chất và phản vật chất ngay lập tức hút nhau do có điện tích ngược nhau, và tự phá hủy nhau. Do sự tự huỷ tạo ra bức xạ, chúng ta có thể sử dụng các thiết bị để đo “tàn dư” của những vụ va chạm này. Chưa có một thí nghiệm nào có khả năng dò ra được các phản thiên hà và sự trải rộng của phản vật chất trong vũ trụ. Khoa học hiện đại vẫn gửi các tín hiệu thăm dò để quan sát sự tồn tại các phản thiên hà.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic & Hoàng Sa, 8/12/2018.

UNG THƯ VÙNG HÀM – HẦU – HỌNG

Ung thư vùng hàm – hầu – họng là một bệnh ung thư phổ biến trong nhóm ung thư. Một số yếu tố có thể góp phần vào sự phát triển của nó, bao gồm cả hút thuốc uống rượu, và tiếp xúc với chất gây ô nhiễm không khí, gây ra, trong đó đáng sợ nhất là ung thư vòm họng (gây đau đớn cao nhất trong các loại ung thư). Ung thư vòm họng thường được điều trị bằng phẫu thuật, xạ trị hoặc hóa trị liệu, hoặc một sự kết hợp của những phương pháp điều trị bằng thảo dược. 

UNG THƯ HÀM – VÒM HỌNG

Qua chẩn mạch, người bệnh bị ung thư hàm – vòm họng thời kỳ thứ 2. Triệu chứng trước mắt là khối u phát triển từ hàm trên bên trái nặng 180g gây sưng, chảy mủ và đau đớn. Bệnh nhân dùng rượu để quên đau đớn (nhất là vào lúc chiều tối) nên càng làm tăng kích thước khối u, dẫn đến nguy cơ hoại tử cả vùng hàm – họng.

Liệu pháp:

1/. Dùng bài thuốc Bảo Tinh Đan chặn đứng ung thư vùng hầu – họng.

Trái sung khô 60g. 2 quả táo tàu. Lá đu đủ 3 lá, bỏ cuống. Trinh nữ hoàng cung 3 lá già. Tỏi tươi một củ giã nát. Đinh lăng một nắm, bạc hà một nắm (tươi hoặc khô).

Hai nước như nhau: tất cả cho vào 3 chén nước sắc còn 1 chén. Nửa ngậm nửa uống, bã đắp lên khối u.

Bài thuốc sử dụng trong 7 đến 10 ngày. Khi giảm mủ và khối u xẹp còn 30% đến 50% thì dung bài thuốc tấn công.

2/. Bài thuốc Hòan cốt đan diệt nang bào ung thư vòm hầu – họng:

Xáo tam phân 30g. Xạ đen 30g. Lá đu đủ 3 lá. Đinh lăng 25g. Rau diếp cá 25g. Bạc hà đất 25g. Nấm lim xanh 30g. Tảo chân vịt 30g. Sâm đại hành 40g. Hoài sơn (khoai mài) 40g. Mã tiền nửa hạt.. Ngũ gia bì 20g. Tỏi 2 củ.

Sắc 3 chén còn 1 chén, 3 nước như nhau, chia uống ngày 3 lần. Tuần đầu ngày 1 thang, tuần tiếp theo 2 ngày 1 thang. Dược trình 12 thang.

3/. Kiêng cữ : Kiêng cữ uống rượu bia, hút thuốc lá, không nên ăn các loại hạt nấm mốc, dưa cà lên men, dưa muối còn tươi, Bổ sung các loại rau củ quả chứa chất chống oxy hóa Fenolics, khoáng chất và Vitamin trong bữa ăn. Luyện tập thể dục đều đặn.

UNG THƯ VÒM HỌNG

Ung thư vòm họng là dạng điển hình và tập trung của ung thư vùng hàm – hầu – họng. Việc chữa trị bao gồm liệu pháp chung của ung thư vùng hàm – hầu – họng, hoặc bài thuốc phức tạp chỉ định riêng cho ung thư vòm họng.

Bài thuốc Tái sinh hầu:

1- Lá trinh nữ hoàng cung: 3 lá già 

2- Lá đu đủ: 3 lá, bỏ cuộng

3- Tỏi tươi: 1 củ, đập giập

4- Nghệ vàng: 1 củ nhỏ đập giập

5- vỏ quả măng cụt: 1 quả

6- măng tây 40g

7- lá chùm ngây 40g

8- Bột tam thất 3 muỗng cà phê

9- Sữa đậu nành 1 cốc 

10- Gạo lức 1 nắm nhỏ,

11- vừng: 2 muỗng cafe 

12- Bách Hoa Xà  60g

13- quả sung khô 60 gam, 

14- Bán Liên Chi 30g

15- chó đẻ răng cưa 30 g

16- cây lược vàng 40g

17- táo tàu ướp đường 2 quả 

18- Đinh lăng (rễ) : 15g

19- Linh chi : 15g

20- Xạ đen : 12g

21- quả ké (đập dập) 1 quả

22- hương thảo : 12g (thế bằng hoa ngũ sắc)

23- bồ công anh 12g 

24- cây khôi 15g 

25- địa long 20g

26- Cây huyết dụ : 10g 

27- kim ngân hoa 10g 

28- cúc hoa : 10g

29- cam thảo dây 10 g

Bài thuốc có hơi phức tạp, đã được dùng chữa trị thành công cho hai bệnh nhân, một ở Nam Định và một ở Daklak.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, (Vũ Kim), 20/8/2015.

POLYP PHỔI TĂNG SINH THÀNH KHỐI U ĐƯỜNG HÔ HẤP

Xét nghiệm: đa polyp cuống phổi và phổi, đỉnh một (vài) polyp phát triển thành khối u.

Nguyên nhân: nhiễm độc hô hấp (cấp tính và mạn tính), đặc biệt trên họng, khí quản và phổi.

Hình thái nhiễm độc(*): bụi lơ lửng trong không khí và khí nóng (khói không màu) chứa các hóa chất công nghiệp benzen, hydrat carbone, cyanhydric và kim loại nặng.

Bài thuốc: 

Xạ đen 50g, bán liên chi 20g, bạch hoa xà 40g. 

Bông/lá mã đề, bồ công anh, lá bần ổi, cỏ mực, cây lá mặt trời, cây lá vẩy ốc, cây lá cỏ xước, cây lá lưỡi rắn, mỗi vị 25g.

Gia giảm: Cam thảo 5g, muối ăn 1/2 muỗng cafe, đường 1 muỗng cafe, mật ong vừa đủ.

Cách dùng: 8 thang hấp chín, xay nghiền làm thành sirop. Uống ngày 3 muỗng canh sau mỗi bữa ăn trong 22 ngày.

Công dụng: Bài thuốc này trị dứt điểm polyp và khối u phổi (trên nền tảng tiêu diệt Polyp), lấy xạ đen và bông mã đề làm Quân vị, đã được dùng nhiều tại VNBLOOD.

Chúc bà con lành bệnh, dồi dào sức khỏe, trở lại với cuộc sống đời thường để phụng sự gia đình, giúp ích cho xã hội.

(*) Các nhà máy nhiệt điện (và cả nhà máy thép) ở VN hiện nay, xưng là dùng công nghệ hiện đại của Trung Quốc, nhưng thật ra là công nghệ “hàng thải” của Âu Châu từ giữa thế kỷ XX (và đã bị Âu Châu chế tài, đặc biệt là Đức cấm dùng từ 30 năm nay).

Vì công nghệ cổ lỗ sĩ này, dù dùng nhiên liệu than khí hóa hay khí đồng hành không qua xử lý, đều tạo ra độc chất cực kỳ nguy hiểm. Độc hại của nhiệt điện chạy than thì khá nhiều tài liệu, ở đây không nói nữa. Riêng về khí đồng hành khi được tách khỏi dầu thô, đó là hỗn hợp chủ yếu gồm etan (C2H6), propan (C3H8), butan (C4H10) và pentan (C5H12), cùng với nước, sulfua hiđrô (H2S), Carbonic (CO2), Helium (He), Nitro (N2) và một số tạp chất khác. Sau khi được đốt cao nhiệt, cao áp làm động năng quay turbine thì chúng thải ra khí nóng (khói không màu) mang những chất độc hại có tác dụng tiêu diệt đối với sinh cơ của nhân loại như đã nói ở các comment trước.

Mong là bài thuốc này góp phần chữa trị và giảm thiểu các nguy cơ đó cho bà con. 

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 27/6/2017.

5G và TẦM NHÌN KHOA HỌC VỀ CÔNG NGỆ DI ĐỘNG KHÔNG DÂY

Lịch sử công nghệ di động không dây

• Từ những năm 1950, hệ thống truyền thông di động analog thương mại kiểu bộ đàm đầu tiên ra mắt tại Mỹ, nhưng phát triển rất chậm chạp. Điện thoại di động thế hệ đầu tiên (1G) sử dụng tín hiệu tương tự (analog) được tung ra sau đó 30 năm. Với sự ra đời của vi xử lý và kỹ thuật số (digital), viễn thông di động được số hóa và xuất hiện công nghệ dữ liệu di động thứ hai (2G). 2G dùng kỹ thuật số. Bên cạnh việc cải thiện chất lượng truyền và nhận giọng nói, 2G cũng giới thiệu SMS — một tính năng được sử dụng thịnh hành, phổ biến vô cùng trước khi các ứng dụng nhắn tin tức thời như Whatsapp ra đời và thay đổi cuộc sống của các “cư dân mạng”.

• Vài năm sau đó, các dịch vụ vô tuyến gói tổng hợp (GPRS) được bổ sung vào công nghệ 2G, cho phép người dùng lướt Internet trên thiết bị di động. GPRS mang lại cho người dùng những trải nghiệm thú vị của việc truy cập Internet trên thiết bị di động. Đến sau năm 2000, công nghệ dữ liệu di động thứ ba (3G) đã xuất hiện, cho phép người dùng truy cập Internet với tốc độ nhanh hơn, ngoài các tính năng thoại và nhắn tin. Vài năm trở lại đây, 4G ra đời cho phép truy cập internet với tốc độ rất nhanh (100Mbps, về mặt lý thuyết) trên các thiết bị hỗ trợ 4G. 

• Từ năm 2018, smartphone có thể lướt web, mà cả TV, vòng tay, thiết bị đeo, tủ lạnh và thậm chí cả xe hơi cũng dùng kết nối Internet ! Ứng dụng Internet vào công nghiệp / thương mại ngày càng sâu sắc hơn với các thiết bị thông minh trang bị cảm biến. Do đó, cần có một công nghệ mới có băng thông đủ rộng để phục vụ cho số lượng thiết bị ngày càng tăng lên này và cung cấp Internet tốc độ cao không bị gián đoạn để giảm thời gian trễ – chờ xử lý. Điều đó thúc đẩy người ta nghĩ ra khái niệm 5G. 

• Có thể tóm tắt rằng, 5G là thế hệ công nghệ di động mới nhất (thứ năm) và được thiết kế để cải thiện đáng kể tốc độ Internet, độ phủ sóng và độ trễ của mạng không dây, thúc đẩy IoT và bùng nổ kết nối. Vì vậy 5G dùng sóng có tần số rất cao, từ 40 đến 80 Giga Hertz. Ở tần số này thì khả năng đâm xuyên kém, tầm liên lạc ngắn hơn sóng 3G hay 4G nên phải hình thành các trạm thu phát sóng BTS – 5G dày đặc. Khoảng cách giữa các trạm thu phát tốt nhất khoảng 150m so với 1 Kilomet, và công suất phát phải lớn hơn từ 2 đến 5 lần công suất phát của các BTS 3G hay 4G.

• Tần số cực cao với công suất lớn lại ở cự ly gần hơn, các trạm thu phát 5G và các thiết bị liên quan gây ra”bức xạ điện từ” (thường được viết tắt là EMF hoặc EMR) mạnh và nguy hiểm hơn. Nó cũng được coi là một loại bức xạ không ion hóa, tác động đến tế bào, đặc biệt là với sự phát triển của ung thư (đã được liên kết với ung thư não và u màng tim), hiệu ứng nhận thức tiêu cực, bao gồm cả nhầm lẫn và các vấn đề về trí nhớ, và các kết cục sức khỏe bất lợi khác như  sẩy thai, thai chết lưu, trẻ em chết non, chảy máu cam và mất ngủ. 

Huawei (và dĩ nhiên là Trung Quốc) tự hào về “sự phát triển kỹ thuật cao” của họ thông qua 5G và muốn thuyết phục thế giới dùng 5G của họ. 

HỆ THÔNG TIN DI ĐỘNG 0G

1/. Hệ thống STARLINK 12.000 vệ tinh:

Tuy nhiên, người Mỹ (và các đồng minh của họ) nghĩ khác: Để giải quyết vấn đề nguy hiểm do sóng 5G tạo ra cho nhân loại trên mặt đất, Elon Musk đưa các mối nguy hiểm này … lên trời, với khoảng 12.100 vệ tinh tiếp vận sóng thông tin di động, và phủ sóng toàn cầu, gọi tên là hệ thống Starlink, do tên lửa Space X đưa lên vũ trụ. 

Công nghệ vô tiền khoáng hậu này được gọi là công nghệ thông tin di động 0G (hay SG).

2/. Sóng 0G:

Sóng 0G là sóng SSB / SHF  (Tần số siêu cao – Super high frequency) là tần số vô tuyến (RF) nằm trong dải tần 3 GHz tới 30 GHz, bước sóng nằm trong khoảng từ 1 tới 10 cm. 0G mang mã Forenz (mã bảo mật tuyệt đối, cho đến nay chưa có máy móc nào giải mã nổi) ở độ cao 400 Km, còn nhẹ hơn sóng GPS, hoàn toàn ko nguy hiểm gì cho con người ở trên mặt đất. Với gói cước toàn cầu của Elon Musk được tính toán sẽ có giá 9,99 USD cho mọi người trên thế giới, đây sẽ là giá sử dụng Internet rẻ chưa từng có từ khi có thông tin vô tuyến. 

3/. Phủ định các hệ thông tin di động trước nó:

Do thu phát trực tiếp từ dụng cụ / thiết bị di động với vệ tinh (như GPS) mà thông tin di động 0G phủ định hoàn toàn các trạm thu phát sóng 5G dày đặc trên mặt đất, vừa nguy hiểm vừa tốn kém, và cũng phủ định luôn cả trăm vạn kilomet cáp quang vượt biển đắt tiền và hay hư hỏng.

Theo báo cáo của Mark Handley, giáo sư ngành nghiên cứu mạng thì chỉ cần 1/3 trong con số 4.425 vệ tinh Internet Starlink của SpaceX giai đoạn đầu chính thức hoạt động là có đủ khả năng làm mất cân bằng thậm chí tiêu diệt cả nền kinh tế mạng toàn cầu lẫn những cơ sở hạ tầng mạng hiện có (bao gồm cả chục vạn Km cáp quang xuyên biển + hàng chục triệu Km dây dẫn internet quang học + hàng triệu trạm BTS thu phát sóng di động).

4/. Vấn đề pháp lý và bảo mật của hệ thống 0G:

Có người nghi ngại rằng có Starlink thì Mỹ có thể dùng nó làm công cụ uy hiếp phần còn lại của thế giới. Điều này không thể xảy ra vì mã Forenz là mã VÔ TẬN, không thể giải mã được. Ngay cả chính phủ Mỹ và FBI cũng..bó tay. Có người đặt dấu hỏi về việc Mỹ có thể khống chế Elon Musk ? Nhưng ngay cả Elon Musk cũng ko thể kiểm soát được mã Forenz thì dù cho có kiểm soát được Elon cũng không thể thâm nhập và giải quyết được mã Forenz. 

Cuối cùng, xin tóm lại rằng tương lai của công nghệ thông tin di động thế giới là 0G với định danh Starlink chứ không phải là 5G cổ lỗ sĩ và đầy hiểm nguy của Huawei (và Trung Quốc).

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 10/6/2019.

SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

Tĩnh mạch: là các mạch máu làm ống dẫn đưa máu nghèo ôxy của cơ thể trở về tim.

Có 3 loại tĩnh mạch ở các chi:

(i) tĩnh mạch nông nằm trong da và dưới da,

(ii) tĩnh mạch sâu nằm trong các nhóm cơ, 

(iii) tĩnh mạch xuyên kết nối hai loại trên.

Máu ở chân trở về tim chủ yếu qua đường các tĩnh mạch sâu. Bình thường máu tĩnh mạch trở về tim nhờ có: 

(i) Lực đẩy từ đông mạch, lực hút do tim co bóp; 

(ii) Áp lực âm trong lòng ngực hút máu về tim; 

(iii) Sự co bóp của các khối cơ cẳng chân (“bơm cơ”), ép vào các tĩnh mạch sâu và đẩy máu đi về tim; và (iv) Hệ thống van trong lòng tĩnh mạch, giữ không cho máu trào ngược dòng.

Khi có trục trặc hệ thống van một chiều của tĩnh mạch (bị suy), sẽ xuất hiện dòng máu trào ngược dẫn đến tình trạng ứ trệ máu trong lòng tĩnh mạch và làm tăng áp lực tĩnh mạch ở cẳng chân, lâu dần dẫn đến tình trạng suy tĩnh mạch mạn tính. Nhiều trường hợp chúng tạo ra huyết khối.

– Huyết khối tĩnh mạch nông hiếm khi gây biến chứng, không nguy hiểm đến tính mạng, tuy vậy cần thăm khám cẩn thận để loại trừ huyết khối tĩnh mạch sâu phối hợp.

– Huyết khối tĩnh mạch sâu đôi khi có thể bong ra và đi lên phổi, gây thuyên tắc động mạch phổi với tỷ lệ tử vong rất cao.

NGUYÊN NHÂN SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

– Thói quen đứng hay ngồi lâu gây ứ trệ máu và tăng áp lực tĩnh mạch của chi dưới.

– Huyết khối tĩnh mạch sâu ngăn cản dòng máu trở về tim.

– Viêm tĩnh mạch với hình thành huyết khối trong các tĩnh mạch sâu hoặc nông.

– Khiếm khuyết van do bẩm sinh.

– Nhiều yếu tố khác: nữ giới, sinh đẻ nhiều, béo phì hay quá cân, táo bón kinh niên, di truyền, nội tiết, sử dụng thuốc ngừa thai, môi trường làm việc nóng và ẩm, lười thể dục, hút thuốc lá, tuổi trên 50…

TRIỆU CHỨNG SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

Các triệu chứng và dấu hiệu sớm của bệnh bao gồm:

– Bệnh nhân có cảm giác bó chặt ở bắp chân, nặng chân, mỏi chân, mất ngủ. Có khi thấy tê, kiến bò vùng bàn chân.

– Vọp bẻ (chuột rút) ở bắp chân, thường xảy ra về đêm.

– Sưng phù xung quanh hai mắt cá, thấy rõ vào buổi tối.

– Các triệu chứng thường nặng lên về chiều tối, hoặc sau khi đứng lâu, sau một ngày làm việc, và giảm bớt vào buổi sáng khi ngủ dậy, hoặc sau khi nghỉ ngơi, kê chân cao.

DƯỢC PHÁP

Về dược pháp, sử dụng các bài thuốc tăng cường thành mạch, giảm sức căng nội mạch + cải thiện tình trạng nhược cơ. Bài thuốc cụ thể là bài “Thập Tứ Anh Hào trị suy van tĩnh mạch” với 2 hình thức sử dụng cùng lúc dưới đây:

1/. Dược liệu: Tỏi ta 10g, Đương quy 20g, Xích thược 20g, Hồng hoa 15g, Đào nhân 16g, Xuyên khung 15g, Sinh địa 15g, Thục địa 10g, Hoàng kỳ 12g, Hòe hoa 20g, Đan sâm 20g, Hạt dẻ ngựa (cao) 5g, Cúc vạn thọ (bông, tách Quercetagetin) 5g hoặc cúc vạn thọ (bông và lá) 20g, Ớt (tách Capsaicin) 10g hoặc ớt 4 trái.

Cách làm:

a/. Thuốc uống: 

– 11 vị đầu sắc 2 chén rưỡi còn nửa chén, 3 nước như nhau trộn đều chia làm 3 phần uống trong ngày.

– Cho 3 vị sau vào khi uống.

b/. Thuốc bôt hãm uống như trà.

– 11 vị đầu sấy khô, xay bột.

– 3 vị sau bỏ vào trộn đều.

– Khi dùng, lấy 1 muỗng cafe bột hãm nước sôi trong 1 ly vừa, uống như trà ngày 3 lần.

2/. Công dụng: giảm trương lực thành tĩnh mạch, gây co mạch, giảm kích thước tĩnh mạch, đánh tan huyết khối, kháng viêm, chống phù nề.

3/. Dược trình 25 thang.

Để hỗ trợ trị liệu, cần phụ dụng các bài thuốc tăng cường thể trạng, trị nhược cơ.

Thân ái. 

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 12/2/2017.

BỆNH ZONA

Bệnh zona (zôna hay zôna thần kinh) là một loại bệnh cấp của hệ thần kinh trung ương, do virus varicella zoster nhiễm vào hạch của các rễ sau gây đau dây thần kinh rồi phát ban, nổi nốt phỏng nước cấp tính, có đặc điểm là những thủy bào tụ thành hõm, vành đai mọc theo đường dây thần kinh một bên người, kèm theo triệu chứng đau như lửa châm và các hạch bạch huyết ngoại vi sưng to, giống Herpes trên vùng da thuộc về dây thần kinh đó.

Triệu chứng là ban đỏ, biến chuyển thành mụn nước thành đám kiểu chùm nho với cảm giác ngứa, nóng và rát, xuất hiện ở mọi nơi trong cơ thể (môi, mắt, miệng, nách, bẹn, tay chân và thân thể, thậm chí vào hậu môn, trực tràng hay kích ứng cả vào hệ tiêu hóa, bài tiết và hô hấp gây các biến chứng trầm trọng hơn). Khoảng 2 đến 4 tuần sau thì lành ngoài da nhưng cảm giác đau nóng có thể kéo dài khá lâu. Có biểu hiện viêm ở hạch đàng sau và đôi khi trong sừng sau của tủy. Nốt phỏng là do huyết thanh tiết dưới lớp sừng. 

Những bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt là trên 60 tuổi sau khi bị zona vết loét đã lành hẳn vẫn để lại sự cắn nhức, đau đớn rất lâu, có  người đã bị zona hàng chục năm trước mà vẫn  còn để lại di chứng.

Tỷ lệ người mắc bệnh zona mỗi năm là 1,2 – 3,4 ca mỗi 1.000 người. Tỷ số này tăng lên 3,9 – 11,8 đối với người trên 65 tuổi.

Varicella zoster là Virus gây bệnh thủy đậu, nghĩa là bệnh nhân trước đó đã từng mắc bệnh thủy đậu (trái rạ). Thường thì bệnh nhân nhiễm thủy đậu khi còn nhỏ rồi lành bệnh ngoài da nhưng virus không bị diệt mà ẩn vào trong tế bào thần kinh, hạch thần kinh dưới dạng không hoạt động (tiềm sinh). Sau một thời gian dài, có khi hằng mấy chục năm, virus tái hoạt thành bệnh zona. Virus sẽ lan theo đường đi của dây thần kinh rồi bộc phát ở trên da tương ứng với khu vực của dây thần kinh đó. Động lực khiến varicella zoster virus (giống như Herpes) tái hoạt sau nhiều năm tiềm phục thì với Y Khoa thông thường vẫn còn là một bí ẩn.

Với phương pháp thống kê Y Học thì Y Dược Học Lượng Tử cho thấy nguyên nhân tái hoạt của varicella zoster virus (và Herpes) sau nhiều năm tiềm phục có liên quan với suy giảm miễn dịch / quá tải tinh thần và thể xác / môi trường sống (ô nhiễm hoặc – và thay đổi đột ngột gây sốc nhiệt, sốc biến dưỡng v.v…) / stress kéo dài và cả lối sống (thụ động, thiếu mục đích, lười vận động, suy giảm lạc quan v.v…).

Một số người còn gọi bệnh này là giời leo, tuy nhiên đó là một sai lầm, vì tên gọi này vốn dùng để chỉ các triệu chứng viêm da dị ứng do côn trùng. Bệnh Zona đã được Y Dược Học Lượng Tử chữa lành trong tất cả các trường hợp tiếp cận, ở mọi cấp độ bệnh lý.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 25/8/2015.