LƯỢC SỬ CỔ ĐẠI VIỆT NAM – Phần 3

Phần III : QUỐC GIA ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT, và
HIẾN PHÁP ĐẦU TIÊN CỦA NHÂN LOẠI

Năm 1221 TCN, đoàn người Âu (甌), còn gọi là Tây Âu (西甌) thuộc chủng Arriane trên đại bình nguyên lưỡng hà Ấn – Hằng từ phía Tây Trung Hoa tràn vào đất Lĩnh Nam của cư dân Bách Việt. Họ nhập vào các nhóm Bách Việt và dần dần trở thành một bộ phận của Bách Việt và càng ngày càng xa rời phong tục tập quán của lưu vực Ấn – Hằng, nên được gọi là Âu Việt (甌越). Họ cao lớn, có năng lực thể chất và thể trạng hơn hẳn các nhóm dân Bách Việt khác, ưu thế trong chiến đấu và xây dựng của họ nhanh chóng được khẳng định và trở thành một đầu tàu, một ngòi nổ mạnh trong cuộc chiến không ngừng giành quyền sống của cộng đồng bách Việt trong thời mông muội của lịch sử.

Khi đoàn người Bách Việt tràn xuống phương Nam tìm đất sống thì đại bộ phận Âu Việt lang thang qua các vùng đất lửa Trung Hoa, Tây Á; một bộ phận của họ đi đến cả phần đất Âu Châu hiện nay. Họ dần dà quay lại đất Lĩnh Nam, theo chân đoàn di dân cơ học Bách Việt về đất Giao Châu và quần cư với người Lạc Việt trên dải đất lưu vực sông Hồng phì nhiêu màu mỡ.

Năm 227 TCN, thủ lĩnh Tây Âu mượn tiếng họ Thục để giành lấy quyền làm chủ phương Nam và lập ra Vương Quốc Âu Lạc đầu tiên trong lịch sử Giao Châu.

Trích dẫn:
Cho tới đầu công nguyên thời Hai Bà Trưng, người Việt vẫn chưa có họ. Do đó họ Thụccủa An Dương Vương là một nghi vấn. Nước Thục (ở Tứ Xuyên ngày nay) mất năm 316 TCN. Chống Tần thất bại, con cháu họ chạy xuống phía bắc nước Văn Lang, sống với người Âu Việt. Sau một thời gian đứng vững, thủ lĩnh Âu Việt thôn tính Lạc Việt. Không hẳn thủ lĩnh Âu Việt đã là dòng dõi nước Thục cũ mà có thể chỉ là con cháu của tướng lĩnh, quan lại cũ của Thục, xưng làm họ Thục để thu phục nhân tâm vùng Âu Việt.
Bộ sử lâu đời nhất và gần thời An Dương Vương nhất là Sử ký Tư Mã Thiên chỉ nhắc tới nước Âu Lạc mà không nhắc tới An Dương Vương họ Thục.

Không còn nghi ngờ gì nữa, chính An Dương Vương mới là người xây dựng nên cường quốc Âu Lạc , 227 TCN. Một cuộc giao hoà rất đẹp giữa hai nguồn GEN : Lạc Việt có ưu thế khéo léo và khả năng ngôn ngữ cộng với Âu Việt có tính trạng tuyệt vời, hiếu chiến và giàu tính phấn đầu (*)

HIẾN PHÁP ĐẦU TIÊN CỦA NHÂN LOẠI

Thế giới công nhiên thừa nhận Hiến Chương Octavius – Hoàng Đế La Mã – công bố khoảng năm 240 là hiến pháp đầu tiên của nhân loại.
Cần chú ý rằng Chiếu “Lịch Dân Lập Quốc” của An Dương Vương nhằm khẳng định vương quyền Âu Lạc công bố trước Hiến Chương Octavius gần 500 năm (chính xác là 467 năm) mới là Hiến Pháp đầu tiên của Nhân Loại. Niềm tự hào của người Việt là từ niềm kiêu hãnh Âu Lạc chứ không phải là Con Rồng Cháu Tiên gì gì đó đầy ảo ảnh. Tiếc là vào thời đó (227 TCN), người Việt chưa có chữ viết, chưa có cả chữ Nôm nên Hiến Pháp đầu tiên của người Việt và Nhân loại phải viết bằng chữ Hán cổ, trúc trắc và đầy dị bản.

==================================

(*) Từ nguyên nhân này mà trong cộng đồng người Việt, thậm chí trong một gia đình, thường có 2 nhóm tính trạng khá tương phản thể hiện 2 nhóm GEN : chị (anh) cao lớn kiểu Âu và em (trai, gái) đậm người kiểu Lạc. 
Ví dụ : Hai chị em Thuý Kiều – Thuý Vân được Nguyễn Du diễn tả rất tinh tế các xu thế tính trạng :
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
…….
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Phân tích ngữ nghĩa cho thấy Vân đẹp kiểu đầy đặn, sung mãn kiểu Lạc, còn Kiều thì lại cao gầy, ẻo lả kiểu Âu, như dáng vẻ cái đẹp hiện đại…
*** Xin khẳng định lại một lần nữa là ở đây chỉ có vấn đề GEN trội, GEN lặn trong một dân tộc Việt Nam thống nhất và duy nhất chứ không có bất cứ vấn đề chủng tộc hay sắc tộc nào khác. Mọi luận điệu khác đi là hoàn toàn sai lạc với lịch sử thật sự đáng tự hào của Dân Tộc Việt Nam.

===========================

TRẢ LỜI NHANH

1/. Nhắc lại cho rõ : Thục Phán không phải là tên thật của An Dương Vương. Nói khác đi thì :
Trích dẫn:
Năm 227 TCN, thủ lĩnh Âu Lạc mượn tiếng họ Thục để giành lấy quyền làm chủ phương Nam và lập ra Vương Quốc Âu Lạc

Khi đoàn Bách Việt xuôi xuống phương Nam, có cả binh tướng Âu Việt, thì :
Trích dẫn:
đại bộ phận Âu Việt lang thang qua các vùng đất lửa Trung Hoa. Họ dần dà quay lại đất Lĩnh Nam, theo chân đoàn di dân cơ học Bách Việt về đất Giao Châu và quần cư với người Lạc Việt…

Khi đến Tứ Xuyên, tàn binh nhóm con cháu nhà Thục chống Tần thất bại nhập vào với họ (Âu Việt) và dần dà về lại đất Lĩnh Nam, sống cùng người Lạc Việt. Người Âu Việt do đó học hỏi được phương thức tổ chức nhà nước phong kiến của người Thục.
Thủ Lĩnh của người Âu Lạc là Bạch Mạo Tướng Quân (Tướng Mặt Trắng, không phải là họ tên) mượn danh nhà Thục, lấy chiêu bài “chân mệnh đế vương” để qui tụ lòng dân cả hai nhóm Âu Việt và Lạc Việt mà lập ra Vương Quốc chính danh Âu Lạc. vào năm 227 TCN. Đây là nhà nước (phong kiến) đầu tiên của người Việt. ( Thục Khoán – tức Thục Phán – nghĩa là “được nhà Thục giao cho” mà chúng ta vẫn tưởng lầm là tên họ, thực chất là đòn chính trị tuyệt vời của Bạch Mạo Tuớng Quân).
2/. Lòng dân hướng về cuộc kết hợp tuyệt vời của hai tộc Bách Việt đó , được phản ánh bằng huyền sử Thần Kim Quy trao nỏ thần cho An Dương Vương (*) . Công cuộc dựng nước và giữ nước thành công do được cả đất trời, nhân dân và thần thánh hỗ trợ, nói lên rằng người dân Việt đã thấy được tính “danh chính ngôn thuận, hợp lòng trời đẹp lòng người” của vương quốc thần thánh Âu Lạc.
3/. Niềm tự hào chính đáng nhất, sự nghiệp đáng tôn trọng nhất, lịch sử hiện thực nhất của cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới trong và ngoài Tổ Quốc phải là Âu Lạc uy nghi kỳ vĩ.
Trước Âu Lạc khổng lồ, hiến chương Octavius chỉ là chú bé con mà thôi….

================================

(*) “Đại Tý Vương” (vua tay lớn) là một thần cơ (người có biệt tài chế tạo) , đã chế tạo đồng cơ (lẫy nỏ bằng đồng) làm cho cung nỏ bình thường trở nên bắn được nhiều phát liên tiếp với tốc độ nhanh.
Người mang công nghệ chế tạo Liên Châu Nỗ (nỏ bắn liên tục) trao cho An Dương Vương để vị vua tài đức của đất nước Âu Lạc tranh hùng với thiên hạ, dựng thành Cổ Loa và giữ nước thành công trước các cuộc xâm lăng và nội chiến do các tộc Việt bất mãn chưa qui thuận (huyền sử hoá thành ác điểu và các loài ma quỉ). Do công đức lớn lao mà Người được thánh hoá thành một trong các thượng đẳng tối linh thần của người Việt : Thần Kim Quy.
Tất cả bí mật nằm trong cái lẫy nỏ hình…. móng rùa. Sự thánh hoá thành thần Kim Quy không phải là không căn cứ.
Bản vẽ và phương pháp tác chiến của Liên Châu Nỗ đã được Dr. Kim viết trong một sưu khảo Khoa Học Quân Sự (1999) trên “Humanese History Reseach” (Đức) và các phân tích kèm theo cho thấy Liên Châu Nỗ là một khí tài quân sự hạng nhất trong thời kỳ đó, và kéo dài nhiều trăm năm sau. Cụm từ “Nhất động bách tiễn” (một cử động bắn ra trăm mũi tên) không phải là nói ngoa hay thần thánh nào cả : Đó là trận địa Liên Châu Nỗ điều động dưới đại hồng kỳ. Một cú phất của lá cờ lệnh là hàng trăm mũi tên Âu Lạc – Kim Quy bắn ra, biến địch nhân thành hình con nhím.
Quả là vũ khí đáng kinh sợ của người Âu Lạc làm cho họ có thể hùng cứ phương Nam….

=======================================

TỒNG KẾT

1/. An Dương Vương là người Việt mượn danh nhà Thục chứ không phải là người Trung Hoa.
Tương âm đồng vị giữa Ph và Kh có rất nhiều tiền lệ. Như Kh ai và Ph á, Kh ôi và Ph ục,Kh ương tuyến và Ph ương tiến. Do đó mà từ “khoan đã” trong ngôn ngữ Nam Bộ vẫn nhiều người người nói thành “phang đã”.
Thục Khoán và Thục Phán là nội suy lịch sử như vậy.
2/. Người Tây Âu đã đồng hoá hoàn toàn vào Bách Việt để trở thành Âu Việt, là người Việt đúng nghĩa trong một dân tộc Việt Nam vĩ đại không thể chia cắt. Do nhận thức sai lầm mà rất nhiều sử gia VN vẫn cho rằng An Dương Vương là người Trung Hoa, do đó mà vẫn né tránh nội dung và thế đứng hùng vĩ của văn minh Âu Lạc. Ngay cả Nguyễn Trãi mà còn sai lầm đến mức liệt Triệu Đà – Nam Việt của người Hán vào tiền triều Việt Sử … (*)
Có thể nào không có lý do lịch sử mà dòng họ Nguyễn Trãi phải nhận lãnh án tru di tam tộc ? Nhận định lịch sử sai lầm có phải là một trong những lý do đó hay không ?
3/. Quan hệ chính trị thời Lạc Việt không hề có ý nghĩa Quốc gia và chỉ là quan hệ cát cứ kiểu lãnh chúa mà không có tổ chức nhà nước. Lạc Vương thời Lạc Việt chỉ có ý nghĩa tượng trưng, thực chất đó là một lãnh chúa Lạc Việt có uy tín nhất (mà không phải là mạnh nhất), dàn hoà được các mối mâu thuẫn giữa các lãnh chúa, được tôn vinh như một biểu tượng tinh thần. Chỉ duy nhất Âu Lạc là quốc gia đầu tiên của người Việt.
4/. An Dương Vương học được kinh nghiệm tổ chức Nhà nước phong kiến từ người Thục nên tổ chức thành công một nhà nước Âu Lạc. Nhận thức được quan niệm “chân mạng đế vương” và lợi dụng nó để dựng một tổ quốc Âu Lạc chính danh, là công trạng to lớn nhất trong lịch sử VN.
5/. Văn minh Cổ Đại Việt Nam là văn minh Âu Lạc chứ không phải văn minh Lạc Việt như các sử liệu phổ thông vẫn nói.

=============================

Chú thích:
(*) Triệu Đà : Năm 210 tr.CN, Tần Thuỷ Hoàng chết, con là Tần Nhị Thế lên thay, đế chế Tần suy yếu dần. Những quận mới lập được ở phía Nam Trung Quốc, trên thực tế, thoát dần khỏi sự quản lý và kiểm soát của chính quyền nhà Tần. Lợi dụng cơ hội đó, Nhâm Ngao và Triệu Đà chiếm Nam Hải, xây dựng một Vương quốc riêng, chống lại nhà Tần.

Nhâm Ngao chết, Triệu Đà thay thế đã thực hiện mưu đồ cát cứ.

Triệu Đà người Hán, quê ở Hà Bắc-Trung Quốc. Sau khi Nhâm Ngao chết, Triệu Đà làm chủ Nam Hải, diệt các quan lại của nhà Tần để thay bằng những người thân cận.

Năm 206 tr.CN, nhà Tần đổ, Triệu Đà liền tiến quân đánh chiếm các quận Quế Lâm, Tượng Quận thành lập nước Nam Việt, tự xưng là Nam Việt Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung. Từ đó, nước Nam Việt của nhà Triệu chính thức ra đời.

Trong cuộc xâm lược đại quy mô của nhà Tần vào những năm 218-208 tr.CN, Triệu Đà đã từng có ý đồ thực hiện chính sách Hán hoá triệt để người Việt ở những vùng chúng đã chiếm. Y đã từng xin vua Tần Thuỷ Hoàng cho đưa 3 vạn đàn bà con gái không chồng xuống để “may vá áo quần” cho quân sĩ xây dựng cơ sở lâu dài. Y còn khuyến khích các tướng lĩnh, quan lại, quân lính người Hán lấy vợ người Việt, thúc đẩy quá trình Hán hoá ở đây.

Nước Nam Việt của Triệu Đà thực chất là nhà nước cát cứ của một tập đoàn tướng lĩnh, quan lại Hán tộc, không phải là nhà nước của người Việt. Nước Nam Việt của nhà Triệu gồm có 3 quận: Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận, là một nước mạnh, có đất đai rộng lớn (bao gồm vùng Quảng Đông, Quảng Tây- một phần Quý Châu ở phía Nam Trung Quốc), kinh tế trù phú, giao thông thuận lợi, lại nằm sát với nước Âu Lạc về phía Bắc nên có điều kiện xâm lược Âu Lạc. 
(theo:http://www.quehuong.org.vn/…/nr0505261019…/%20ns050526091345)
Cần chú ý rằng cuộc xâm lăng thành công bắt đầu bằng chiến tranh gián điệp của Triệu Đà đối với Âu Lạc đã mở đầu cho thời kỳ Bắc thuộc ngàn năm cay đắng của người Việt…
… quân Triệu đã nhiều lần tiến quân xâm lược Âu Lạc; có lần đã tiến xuống xâm phạm vùng Tiên Du (Bắc Ninh), Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh), sông Bình Giang (sông Đuống). Nhiều trận chiến đấu lớn, ác liệt đã diễn ra ở vùng Tiên Du và vùng phụ cận Cổ Loa. Nhưng bấy giờ, Âu Lạc là một quốc gia hùng mạnh, có Liên Châu Nỗ lợi hại thần kỳ, có thành Cổ Loa kiên cố, dưới sự lãnh đạo của An Dương Vương và các tướng, nội bộ đoàn kết, nhân dân ủng hộ và quyết tâm chiến đấu đã đánh bại quân Triệu, bảo vệ độc lập, tự chủ.

Sau nhiều lần xâm lược vũ trang thất bại, Triệu Đà thay đổi thủ đoạn xâm lược, thực hiện mưu kế xảo quyệt, xin giảng hoà với Âu Lạc, cầu hôn Công chúa Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thuỷ và xin cho Trọng Thuỷ được ở rể, để có cơ hội điều tra tình hình bố phòng và các bí mật quân sự của kinh thành Cổ Loa và nước Âu Lạc (mà chủ yếu là bí mật Liên Châu Nỗ.) Sống trên đất Cổ Loa, Trọng Thuỷ đã dùng tiền của mua chuộc các lạc hầu, lạc tướng, li gián nội bộ chính quyền Âu Lạc nhằm làm suy yếu khối đoàn kết, giảm ý chí chiến đấu và tinh thần cảnh giác của An Dương Vương.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Trọng Thuỷ xin An Dương Vương cho về thăm nhà, nhằm báo cáo kết quả do thám. Nắm chắc tình hình, Triệu Đà liền tổ chức cuộc tấn công xâm lược Âu Lạc, bất ngờ đánh thẳng vào Kinh đô Cổ Loa. An Dương Vương mất cảnh giác, bị động đối phó trong lúc nội bộ đã bị li gián. Cuộc kháng chiến thất bại nhanh chóng.
Năm 179 tr.CN, người Việt rơi vào ách đô hộ của nhà Triệu; mở đầu một thời kỳ đen tối, đầy đau thương và uất hận trong lịch sử nước ta, thường được gọi là thời Bắc thuộc, kéo dài từ 179 tr.CN đến năm 905
Cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ thắng lợi, lật đổ nền đô hộ của đế chế Đường, giành lại quyền độc lập, tự chủ của nhân dân ta, thời Bắc thuộc mới chấm dứt hoàn toàn.

Vũ Kim 
06 / 6 / 2015