LƯỢC SỬ CỔ ĐẠI VIỆT NAM – Phần 4

Phần IV : NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN

Sau thất bại của An Dương Vương (179 TCN), nhân dân Âu Lạc bị mất nước và bị chìm đắm trong đêm trường nô lệ vì bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Triệu Đà dùng mọi cách để xóa bỏ văn hóa Việt, Hán hóa mọi phong tục tập quán và nhân chủng Việt, nhưng người Việt đã rất cảnh giác và quật cường, lần lượt vượt qua các mưu đồ ấy.

Theo Tiền Hán thư, số đồ cống của Triệu Đà gửi dâng Hán Vũ Đế gồm có: một đôi ngọc bích trắng 1.000 con chim thuý (chim bói cá lông đẹp), 10 sừng tê 500 viên ngọc bối tía, một lọ quế đố (cà cuống), 40 đôi chim thuý sống, hai đôi chim công. . . Các đồ cống đó là do nhà Triệu vơ vét được ở Âu Lạc. Ngoài ra, dân Âu Lạc còn phải cung đốn lương thực cho bọn quan lại và binh lính nhà Triệu đóng trên lãnh thổ Âu Lạc và tham gia sửa đắp thành luỹ, xây dựng nhà cửa cho bọn quan lại đô hộ ở các trung tâm cai trị. Sự áp bức, bóc lột đó càng thúc đẩy chiến tranh khởi nghĩa giành quyền tự chủ của người Việt.

1/. Khởi nghĩa Tây Vu Vương (năm 111 TCN) :
Đây là cuộc nổi dậy đầu tiên của nhân dân ta chống Bắc thuộc mà sử cũ còn ghi lại. Đó là cuộc khởi nghĩa của một bộ phận người Âu Lạc, dưới quyền lãnh đạo của một dòng họ quý tộc Âu Lạc nhằm khôi phục lại quyền độc lập cho đất nước.

Bấy giờ, quân Hán đánh chiếm Phiên Nhung, hạ đô thành Nam Việt (Quảng châu), nội bộ Nam Việt bị phân hoá chia rẽ, bọn quan lại Nam Việt nhiều người đầu hàng nhà Hán. Chớp thời cơ đó, Tây Vu Vương (thủ lĩnh Tây Vu – Cổ Loa) đã thống suất dân chúng nổi dậy khởi nghĩa chống bọn sứ giả nhà Triệu. Cuộc khởi nghĩa tuy bị thất bại, Tây Vu Vương bị giết, nhưng nó đã mở ra một trang sử mới về tinh thần chống đô hộ của nhân dân ta.

2/. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 – 43) :
Từ khi nhà Hán đặt ách thống trị lên miền đất Âu Lạc, mức độ bóc lột và đồng hoá của bè lũ quan lại ngoại bang càng trở lên khốc liệt. Phong trào chống đô hộ của nhân dân ta trong buổi đầu công nguyên đã nổi dậy mà đỉnh cao nhất, chói lọi ngàn thu là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở đất Lĩnh Nam.

Cuộc nổi dậy oanh liệt ấy là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử thế giới cổ đại, nó như một tia lửa nhen lên tinh thần yêu nước Việt Nam, tinh thần vùng lên khởi nghĩa, coi độc lập dân tộc là cái quý giá nhất: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và sáu mươi lăm thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng. . . “ (Lê Văn Hưu).

Hai Bà Trưng cùng quân đội của mình đã phải tiến hành cuộc kháng chiến chống lại cuộc tiến công xâm lược tàn bạo của nhà Đông Hán trong suốt ba năm liền cho đến khi thất bại, hi sinh trên dòng sông Hát.

3/. Các cuộc khởi nghĩa tiếp nối :
Hết thế kỷ này sang thế kỷ khác, phong trào khởi nghĩa giành độc lập tự chủ của nhân dân ta diễn ra sôi sục, mãnh liệt với hàng chục cuộc khởi nghĩa lớn, nhỏ bùng nổ trên khắp các địa phương. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Chu Đạt ở các quận Cửu Chân và Nhật Nam những năm 157-160; của Lương Long ở nhiều quận, huyện từ Giao Chỉ cho tới Nhật Nam những năm 178- 181 ; của Bà Triệu ở Cửu Chân rồi lan rộng ra Giao Chỉ năm 248, khiến “Cả Giao châu đều chấn động”; khởi nghĩa của Lý Trường Nhân, Lý Thúc Hiến với việc giành lại được quyền tự chủ trong một thời gian (468-485).

Bước sang thế kỷ VI, phong trào giải phóng của nhân dân ta chuyển lên giai đoạn phát triển mới mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa thành công dưới sự lãnh đạo của Lý Bí (542-543) đưa đến việc thành lập nhà nước Vạn Xuân (544). Nhà nước Vạn Xuân vừa được thiết lập, chỉ được hưởng thái bình trong hơn một năm thì đã bị quân Lương tiến công xâm lược. Nhân dân Vạn Xuân dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế và Triệu Quang Phục đã anh dũng tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ giữ nước. Trải qua sáu năm kháng chiến, quân, dân Vạn Xuân chiến đấu anh dũng, kiên cường và giành được thắng lợi.

Từ thế kỷ VII, dưới ách cai trị bạo ngược của phong kiến nhà Tuỳ, rồi sau đó là của bọn phong kiến nhà Đường, các tầng lớp nhân dân, thế hệ nọ nối tiếp thế hệ kia, liên tục vùng lên đánh giặc. Cuộc khởi nghĩa này bị dìm trong máu lửa thì cuộc khởi nghĩa khác lại dâng lên.

Điều đáng lưu ý nhất là các cuộc nổi dậy đó chủ yếu không phải là nổi dậy của dân cày chống bọn điền chủ vì sưu cao thuế nặng, mà chủ yếu là nổi dậy của dân tộc Việt Nam chống đô hộ, giành độc lập tự chủ.

Ách đô hộ nhà Đường thường bị rung chuyển bởi những đòn công phá của phong trào cứu nước của nhân dân ta, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến năm 687, của Mai Thúc Loan năm 722, của Phùng Hưng những năm 766-779 và của Dương Thanh những năm 819-820. Trong số những cuộc nổi dậy mạnh mẽ đó cũng có những cuộc khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh giải phóng, như khởi nghĩa Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế).

Từ căn cứ Vạn An (Nghệ An), nghĩa quân Mai Thúc Loan đã liên kết với nhiều lực lượng chống nhà Đường, tiến ra bắc, tiến công phủ thành Tống Bình. Bè lũ đô hộ Quang Sở Khách, trước khí thế ngút trời của cuộc chiến tranh giải phóng của người Việt đã bỏ thành, chạy tháo thân về nước.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa không duy trì được lâu bởi ngay sau đó vua Đường đã cử danh tướng Dương Tư Húc dẫn 10 vạn quân sang đàn áp. Tuy vậy, cuộc khởi nghĩa với hình thức đấu tranh mạnh mẽ, rộng lớn đó đã cổ vũ nhân dân ta tiếp tục đứng lên đánh đuổi quân xâm lược.

4/. Khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ (905 – 908)
Đầu thế kỷ X, xuất hiện một hình thức khởi nghĩa mới của Khúc Thừa Dụ. Bấy giờ, triều đình nhà Đường ở Trường An và chính quyền đô hộ ở miền đất nước ta suy yếu; cuộc đấu tranh đòi độc lập của nhân dân ta lan rộng và dâng cao, bọn quan lại đô hộ bất lực. Khúc Thừa Dụ, hào trưởng có uy tín ở Hồng châu nhân thời thế, tổ chức quân sĩ, thu phục lòng người và khi thời cơ đến đã lãnh đạo nhân dân đứng lên chống bọn đô hộ, giành được chính quyền rồi tự xưng là tiết độ sứ.

Nhà Đường buộc phải chấp thuận sự việc đã rồi, công nhận Khúc Thừa Dụ là Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, đại diện của triều đình Trường An tại An Nam. Về danh nghĩa thì như vậy, nhưng thực chất họ Khúc đã xây dựng một chính quyền tự chủ. Tuy chính quyền vẫn còn mang danh hiệu của nhà Đường, nhưng về thực chất, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ, về cơ bản kết thúc ách thống trị hơn 1.000 năm của phong kiến phương Bắc. Lịch sử ghi nhận công lao của ông như là người đầu tiên đặt cơ sở lấy lại nền độc lập dân tộc

Cánh ứng xử của họ Khúc quả là độc đáo mở đầu cho một truyền thống khôn khéo, mềm mỏng trong thế ứng xử đối ngoại với phong kiến phương Bắc, nhằm đạt mục đích là giành và giữ nền độc lập dân tộc. Ở cạnh kề một nước lớn, từ sớm tổ tiên ta đã tỏ ra biết ứng xử linh hoạt để tồn tại và phát triển. Nhún nhường không phải lúc nào cũng biểu hiện yếu kém. Nhân nhượng để tránh tổn thất vô ích mà lại đạt mục tiêu. Độc lập tự chủ là mục tiêu lớn nhất của cả dân tộc ta thời đó.

Chính quyền tự chủ của họ Khúc được xây dựng năm 905 và tồn tại trong 26 năm thì các năm 931 và 938, nhà Nam Hán liên tục hai lần đưa quân xâm lược.

5/. Triều đại Ngô Quyền (939 – 944) :
Ngô Quyền (898 – 944), còn được biết đến với tên gọi Tiền Ngô Vương, là vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. Năm 938, ông là người lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng hiển hách, chính thức kết thúc hơn một thiên niên kỉ Bắc thuộc, mở ra một thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam. Sau chiến thắng này, ông lên ngôi vua, trị vì từ năm 939 đến năm 944.

6/. Nhà Đinh (968 – 979) :
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, Đại Việt sử ký toàn thư chép sự kiện: “Bầy tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế” và “Vua mở nước, lập đô (tại Hoa Lư), đổi xưng Hoàng đế”. Đinh Tiên Hoàng là người xưng hoàng đế đầu tiên ở Việt Nam.
Nhận xét về Đinh Tiên Hoàng đế, sử gia Lê Văn Hưu cho rằng có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà sinh bậc thánh triết, Lê Tung cho rằng vua chính thống của nước Việt ta, thực bắt đầu từ đấy.

7/. NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN
Trong cái ngạo thế hào hùng của đất Việt giờ đây đã hùng cứ một phương, sánh ngang vai cùng kẻ địch truyền đời phương Bắc, nhân dân Việt đã hào hứng dựng chùa NHẤT TRỤ với nghĩa NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN (một cột chống trời / chỉ thiên quốc – kẻ đại địch phương Bắc) tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình ngày nay). Ngôi chùa Nhất Trụ mà con gái vua Đinh Tiên Hoàng tu hành, có một cây cột đá cao, tám cạnh, khắc bài kinh Lăng Nghiêm, đề niên hiệu thời Lê Hoàn (981–1005)

Kiến trúc chùa một cột này là hình thái kiến trúc thuần Việt hết sức độc đáo, chưa từng có bất cứ đâu trên đất Trung Hoa, nêu rõ cái khí thế ngạo nghễ của một dân tộc sẵn sàng đương đầu, không e sợ bất cứ thế lực ngoại bang nào xâm lấn, một bản sắc đủ sức trường tồn, không bị đồng hóa và không lẫn vào văn hóa Trung Hoa. Điều đó được minh chứng trong lịch sử nghìn năm kéo dài đến ngày nay.

Vũ Kim. 07 / 6 / 2015
(có tham khảo vnmilitaryhistory, Wikipedia và vietnam.vnanet)
(Xem tiếp : PHẦN V : Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại).