SIÊU ÂM NỘI SOI CAN THIỆP

I/. Sơ lược về siêu âm và máy siêu âm

1/. Siêu âm
Siêu âm là một loại dao động cơ học được truyền đi trong một môi trường vật chất nhất định.Năng lượng cơ học này tác động vào các phân tử vật chất của môi trường làm cho chúng dao động khỏi vị trí cân bằng, mặt khác do tương tác mà các phân tử bên cạnh nó cũng chụi ảnh hưởng và dao động theo, tạo thành sóng lan truyền cho tới khi hết năng lượng. chính vì vậy siêu âm không thể truyền ở môi trường chân không như các sóng điện từ.
Âm thanh được chia thành 3 loại dựa theo tần số. Những âm thanh có tần số duới 16 Hz mà tai người không thể nghe được là hạ âm. Các sóng âm có dải tần từ 16 Hz đến 20.000 Hz được gọi là âm thanh, còn siêu âm có tần số trên 20.000 Hz. Như vậy về bản chất siêu âm cũng không có gì khác với các dao động cơ học khác và nó cũng được đặc trưng bởi một số đại lượng vật lý như: tần số, biên độ , chu kỳ… 
– Chu kỳ là khoảng thời gian thực hiện một nén và dãn. Đơn vị th¬ường được tính bằng đơn vị đo thời gian( s, ms…) 
– Biên độ là khoảng cách lớn nhất giữa 2 đỉnh cao nhất và thấp nhất.
– Tần số ( f ) là số chu kỳ giao động trong 1 giây, đơn vị đo là Hz 
– Bước sóng(λ) là độ dài của 1 chu kỳ giao động. Bước sóng th¬ường được đo bằng đơn vị đo chiều dài như mm, cm
– Tốc độ siêu âm ( c ) là quãng đường mà chùm tia siêu âm đi được trong 1 đơn vị thời gian, th¬ường được đo bằng m/s.
– Năng lượng siêu âm ( P ) biểu thị mức năng l¬ượng mà chùm tia siêu âm truyền vào cơ thể. Giá trị này phụ thuộc vào nguồn phát , trong siêu âm chẩn đoán để đảm bảo an toàn các máy thường phát với mức năng lượng thấp vào khoảng 1mw đến 10mw. Tuy nhiên trong các kiểu siêu âm thì siêu âm Doppler thường có mức năng lượng cao hơn. ở các máy siêu âm hiện đại người sử dụng có thể chủ động thay đổi mức phát năng lượng để nâng cao hơn tính an toàn cho bệnh nhân, nhất là đối với thai nhi và trẻ em.
– Cường độ sóng âm là mức năng lượng do sóng âm tạo nên trên 1 đơn vị diện tích. Thường được đo bằng đơn vị W/cm2. Cường độ sóng âm sẽ suy giảm dần trên đường truyền nhưng tần số của nó không thay đổi. Người ta còn tính cường độ sóng âm tương đối đo bằng dB. Khác với cường độ sóng âm, đại lượng này là một giá trị tương đối, nó cho biết sự khác nhau về cường độ siêu âm tại 2 vị trí trong không gian.

2. Quá trình lan truyền sóng âm trong cơ thể 
Chùm tia siêu âm đi qua tổ chức xương và mô mềm có 43% năng lượng bị phản xạ trở lại và chỉ có 57% năng lượng tiếp tục đi qua. Tương tự như vậy nếu bề mặt phân cách là không khí và mô mềm thì R= 0,998, hay hệ số truyền âm chỉ còn 1- 0,998 = 0,002 hay =0,2%. Do đó khi thực hành chúng ta phải tạo môi trường chất lỏng ( gel siêu âm ) giữa đầu dò và cơ thể để chùm tia siêu âm có thể xuyên vào trong cơ thể, mà không bị phản xạ trở lại.
Trong môi trường có cấu trúc đồng nhất, sóng âm lan truyền theo đường thẳng, và bị mất năng lượng dần gọi là suy giảm. Sự suy giảm theo luật nghịch đạo của bình phương khoảng cách. Sự hấp thu quan trọng của năng lượng âm gặp vật chất tạo nhiệt. Tuy nhiên sự mất năng lượng trong siêu âm không giống bức xạ tia X, vì ở đây còn có hiệu ứng quang từ hoặc hiệu ứng Compton. Vận tốc truyền sóng âm phụ thuộc vào độ cứng và tỷ trọng của môi trường vật chất xuyên qua, trong cơ thể người: mỡ 1450; nước 1480; mô mềm 1540; xương 4100 m/s.

3/. Máy siêu âm chẩn đoán :
– Phát sóng âm: Sóng âm được tạo ra do chuyển đổi năng lượng từ điện thành các sóng xung tương tự như phát xạ tia X, phát ra từ các đầu dò, có cấu trúc cơ bản là gốm áp điện (piezo-electric).
Sóng phản hồi sẽ thu nhận bởi đầu dò, sau đó được xử lý trong máy và truyền ảnh lên màn hình (display), hoặc ghi lại trên phim, giấy in hoặc trên băng đĩa từ. Tất nhiên các sóng phản hồi không được thu nhận bởi đầu dò sẽ bị biến mất theo luật suy giảm.
– Đầu dò (Transducer – Probe): làm nhiệm vụ vừa phát vừa thu sóng âm phản hồi.
Tùy theo máy và hãng sản xuất, các đầu dò quét được nhờ một hệ thống cơ khí hay điện tử, với chùm thăm dò theo hình chữ nhật hay rẽ quạt.

II/. Tính năng tác dụng , hình thái , kích thước đầu dò siêu âm ổ bụng
Đầu dò siêu âm ổ bụng phổ biến nhất là đầu dò quét điện tử cầm tay. Các tinh thể gốm áp điện được xếp thành một dãy theo chiều ngang (tuyến tính), được mở ra một cửa sổ (aperture) tương đối lớn do số lượng tinh thể từ 4 đến 10, chùm sóng âm khi phát ra khá rộng. Các đầu dò siêu âm hiện đại còn dùng Piezo polimer với cộng hưởng đa tần.
Đầu dò thường có kích thước 75 x 17 với mặt cong lồi R150.

III/. Dụng cụ nguyên bản
Đầu dò siêu âm ổ bụng chứa nhiều miếng gốm áp điện (piezo-eletric), khi có dòng điện xoay chiều tần số cao khích thích vào miếng gốm này làm cho nó co giãn và phát ra xung siêu âm, ngược lại khi miếng áp điện rung lên do sóng siêu âm dội trở về sẽ tạo ra một xung động (tính thuận nghịch). Sóng siêu âm lan truyền vào các mô trong cơ thể, gặp các mặt phẳng sẽ tạo ra các sóng âm dội trở về (echo). Mỗi âm dội mà đầu dò thu nhận được sẽ chuyển thành tín hiệu điện, từ tín hiệu này sẽ được chuyển thành tín hiệu trên màn hình, và tất cả chùm sóng âm quét tạo nên hình ảnh siêu âm của ổ bụng.
Sử dụng trong chuyên môn tiết niệu, siêu âm cho phép thăm dò chẩn đoán từ thận đến bàng quang và các nội mô có liên quan.

IV/. Dụng cụ siêu âm nội soi can thiệp
1/. Nguyên tắc :
Dựa trên lâm sàng thăm dò ổ bụng, hình ảnh đã qua máy tính xử lý cho phép xác định các nội mô, nội tạng cần can thiệp hóa sinh. Do đó chúng ta có thể đưa dịch sinh lý, thuốc điều trị dạng lỏng vào, làm sinh thiết v.v… một cách trực tiếp trên nội mô, nội tạng đó. Hiệu quả can thiệp dựa vào siêu âm lâm sàng sẽ tương tự như các phương tiện nội soi khác nhưng giản đơn, trực quan hơn nhiều.
2/. Ứng dụng :
Dụng cụ ghép một ống dẫn hướng với đầu dò siêu âm cho phép đưa mũi tiêm đến nội mô, nội tạng một cách chính xác với sự hỗ trợ của hình ảnh siêu âm. Các thao tác tiếp theo sẽ đem lại các hiệu quả y khoa cần thiết.

V/. Quá trình gia công : các công đoạn , các loại máy để gia công
1/. Vật liệu : Thép mạ Crôm 100 um theo đúng tiêu chuẩn y tế.
2/. Gia công :
– Ốp thân + ốp hông : máy đột – dập.
– Định vị + bộ ghép nối : máy tiện + hàn.
– Mạ Crom : máy mạ CrO3

VI/. Thử nghiệm trên máy siêu âm Dữ liệu 120 trang A4, không đưa lên Facebook được)

VII/. Những sai lệch có thể xảy ra khi thử
Nếu liên kết các chi tiết không đúng sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng thu phát siêu âm, làm lệch hướng các chùm siêu âm phản xạ. Điều này làm cho người thao tác siêu âm nội soi không đưa ống dẫn hướng đến chính xác nơi cần can thiệp.
VIII/. Cách khử sai.
1/. Ghép nối ốp hông chính xác, siết chặt ốc định vị vừa phải để không ảnh hưởng đến cấu trúc đầu dò (biến dạng, nứt vỡ v.v…)
2/. Chỉnh lý bộ ghép nối liên kết ống dẫn hướng với ốp hông, khử bớt độ “rơ” cơ khí.
3/. Vệ sinh kỹ khu vực liên kết khớp nối, tránh tàn dư của dịch, chất nhầy …, cặn đóng gây khó khăn cho thao tác nội soi can thiệp. Ngoài ra, ống dẫn hướng sẽ xuyên qua ổ bụng bệnh nhân nên cần làm sạch, vô trùng đến mức độ cần thiết.

Vũ Kim 2012

UNG THƯ VÙNG HÀM – HẦU – HỌNG

Ung thư vùng hàm – hầu – họng là một bệnh ung thư phổ biến trong nhóm ung thư. Một số yếu tố có thể góp phần vào sự phát triển của nó, bao gồm cả hút thuốc uống rượu, và tiếp xúc với chất gây ô nhiễm không khí, gây ra, trong đó đáng sợ nhất là ung thư vòm họng (gây đau đớn cao nhất trong các loại ung thư). Ung thư vòm họng thường được điều trị bằng phẫu thuật, xạ trị hoặc hóa trị liệu, hoặc một sự kết hợp của những phương pháp điều trị bằng thảo dược. 

UNG THƯ HÀM – VÒM HỌNG

Qua chẩn mạch, người bệnh bị ung thư hàm – vòm họng thời kỳ thứ 2. Triệu chứng trước mắt là khối u phát triển từ hàm trên bên trái nặng 180g gây sưng, chảy mủ và đau đớn. Bệnh nhân dùng rượu để quên đau đớn (nhất là vào lúc chiều tối) nên càng làm tăng kích thước khối u, dẫn đến nguy cơ hoại tử cả vùng hàm – họng.

Liệu pháp:

1/. Dùng bài thuốc Bảo Tinh Đan chặn đứng ung thư vùng hầu – họng.

Trái sung khô 60g. 2 quả táo tàu. Lá đu đủ 3 lá, bỏ cuống. Trinh nữ hoàng cung 3 lá già. Tỏi tươi một củ giã nát. Đinh lăng một nắm, bạc hà một nắm (tươi hoặc khô).

Hai nước như nhau: tất cả cho vào 3 chén nước sắc còn 1 chén. Nửa ngậm nửa uống, bã đắp lên khối u.

Bài thuốc sử dụng trong 7 đến 10 ngày. Khi giảm mủ và khối u xẹp còn 30% đến 50% thì dung bài thuốc tấn công.

2/. Bài thuốc Hòan cốt đan diệt nang bào ung thư vòm hầu – họng:

Xáo tam phân 30g. Xạ đen 30g. Lá đu đủ 3 lá. Đinh lăng 25g. Rau diếp cá 25g. Bạc hà đất 25g. Nấm lim xanh 30g. Tảo chân vịt 30g. Sâm đại hành 40g. Hoài sơn (khoai mài) 40g. Mã tiền nửa hạt.. Ngũ gia bì 20g. Tỏi 2 củ.

Sắc 3 chén còn 1 chén, 3 nước như nhau, chia uống ngày 3 lần. Tuần đầu ngày 1 thang, tuần tiếp theo 2 ngày 1 thang. Dược trình 12 thang.

3/. Kiêng cữ : Kiêng cữ uống rượu bia, hút thuốc lá, không nên ăn các loại hạt nấm mốc, dưa cà lên men, dưa muối còn tươi, Bổ sung các loại rau củ quả chứa chất chống oxy hóa Fenolics, khoáng chất và Vitamin trong bữa ăn. Luyện tập thể dục đều đặn.

UNG THƯ VÒM HỌNG

Ung thư vòm họng là dạng điển hình và tập trung của ung thư vùng hàm – hầu – họng. Việc chữa trị bao gồm liệu pháp chung của ung thư vùng hàm – hầu – họng, hoặc bài thuốc phức tạp chỉ định riêng cho ung thư vòm họng.

Bài thuốc Tái sinh hầu:

1- Lá trinh nữ hoàng cung: 3 lá già 

2- Lá đu đủ: 3 lá, bỏ cuộng

3- Tỏi tươi: 1 củ, đập giập

4- Nghệ vàng: 1 củ nhỏ đập giập

5- vỏ quả măng cụt: 1 quả

6- măng tây 40g

7- lá chùm ngây 40g

8- Bột tam thất 3 muỗng cà phê

9- Sữa đậu nành 1 cốc 

10- Gạo lức 1 nắm nhỏ,

11- vừng: 2 muỗng cafe 

12- Bách Hoa Xà  60g

13- quả sung khô 60 gam, 

14- Bán Liên Chi 30g

15- chó đẻ răng cưa 30 g

16- cây lược vàng 40g

17- táo tàu ướp đường 2 quả 

18- Đinh lăng (rễ) : 15g

19- Linh chi : 15g

20- Xạ đen : 12g

21- quả ké (đập dập) 1 quả

22- hương thảo : 12g (thế bằng hoa ngũ sắc)

23- bồ công anh 12g 

24- cây khôi 15g 

25- địa long 20g

26- Cây huyết dụ : 10g 

27- kim ngân hoa 10g 

28- cúc hoa : 10g

29- cam thảo dây 10 g

Bài thuốc có hơi phức tạp, đã được dùng chữa trị thành công cho hai bệnh nhân, một ở Nam Định và một ở Daklak.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, (Vũ Kim), 20/8/2015.

POLYP PHỔI TĂNG SINH THÀNH KHỐI U ĐƯỜNG HÔ HẤP

Xét nghiệm: đa polyp cuống phổi và phổi, đỉnh một (vài) polyp phát triển thành khối u.

Nguyên nhân: nhiễm độc hô hấp (cấp tính và mạn tính), đặc biệt trên họng, khí quản và phổi.

Hình thái nhiễm độc(*): bụi lơ lửng trong không khí và khí nóng (khói không màu) chứa các hóa chất công nghiệp benzen, hydrat carbone, cyanhydric và kim loại nặng.

Bài thuốc: 

Xạ đen 50g, bán liên chi 20g, bạch hoa xà 40g. 

Bông/lá mã đề, bồ công anh, lá bần ổi, cỏ mực, cây lá mặt trời, cây lá vẩy ốc, cây lá cỏ xước, cây lá lưỡi rắn, mỗi vị 25g.

Gia giảm: Cam thảo 5g, muối ăn 1/2 muỗng cafe, đường 1 muỗng cafe, mật ong vừa đủ.

Cách dùng: 8 thang hấp chín, xay nghiền làm thành sirop. Uống ngày 3 muỗng canh sau mỗi bữa ăn trong 22 ngày.

Công dụng: Bài thuốc này trị dứt điểm polyp và khối u phổi (trên nền tảng tiêu diệt Polyp), lấy xạ đen và bông mã đề làm Quân vị, đã được dùng nhiều tại VNBLOOD.

Chúc bà con lành bệnh, dồi dào sức khỏe, trở lại với cuộc sống đời thường để phụng sự gia đình, giúp ích cho xã hội.

(*) Các nhà máy nhiệt điện (và cả nhà máy thép) ở VN hiện nay, xưng là dùng công nghệ hiện đại của Trung Quốc, nhưng thật ra là công nghệ “hàng thải” của Âu Châu từ giữa thế kỷ XX (và đã bị Âu Châu chế tài, đặc biệt là Đức cấm dùng từ 30 năm nay).

Vì công nghệ cổ lỗ sĩ này, dù dùng nhiên liệu than khí hóa hay khí đồng hành không qua xử lý, đều tạo ra độc chất cực kỳ nguy hiểm. Độc hại của nhiệt điện chạy than thì khá nhiều tài liệu, ở đây không nói nữa. Riêng về khí đồng hành khi được tách khỏi dầu thô, đó là hỗn hợp chủ yếu gồm etan (C2H6), propan (C3H8), butan (C4H10) và pentan (C5H12), cùng với nước, sulfua hiđrô (H2S), Carbonic (CO2), Helium (He), Nitro (N2) và một số tạp chất khác. Sau khi được đốt cao nhiệt, cao áp làm động năng quay turbine thì chúng thải ra khí nóng (khói không màu) mang những chất độc hại có tác dụng tiêu diệt đối với sinh cơ của nhân loại như đã nói ở các comment trước.

Mong là bài thuốc này góp phần chữa trị và giảm thiểu các nguy cơ đó cho bà con. 

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 27/6/2017.

SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

Tĩnh mạch: là các mạch máu làm ống dẫn đưa máu nghèo ôxy của cơ thể trở về tim.

Có 3 loại tĩnh mạch ở các chi:

(i) tĩnh mạch nông nằm trong da và dưới da,

(ii) tĩnh mạch sâu nằm trong các nhóm cơ, 

(iii) tĩnh mạch xuyên kết nối hai loại trên.

Máu ở chân trở về tim chủ yếu qua đường các tĩnh mạch sâu. Bình thường máu tĩnh mạch trở về tim nhờ có: 

(i) Lực đẩy từ đông mạch, lực hút do tim co bóp; 

(ii) Áp lực âm trong lòng ngực hút máu về tim; 

(iii) Sự co bóp của các khối cơ cẳng chân (“bơm cơ”), ép vào các tĩnh mạch sâu và đẩy máu đi về tim; và (iv) Hệ thống van trong lòng tĩnh mạch, giữ không cho máu trào ngược dòng.

Khi có trục trặc hệ thống van một chiều của tĩnh mạch (bị suy), sẽ xuất hiện dòng máu trào ngược dẫn đến tình trạng ứ trệ máu trong lòng tĩnh mạch và làm tăng áp lực tĩnh mạch ở cẳng chân, lâu dần dẫn đến tình trạng suy tĩnh mạch mạn tính. Nhiều trường hợp chúng tạo ra huyết khối.

– Huyết khối tĩnh mạch nông hiếm khi gây biến chứng, không nguy hiểm đến tính mạng, tuy vậy cần thăm khám cẩn thận để loại trừ huyết khối tĩnh mạch sâu phối hợp.

– Huyết khối tĩnh mạch sâu đôi khi có thể bong ra và đi lên phổi, gây thuyên tắc động mạch phổi với tỷ lệ tử vong rất cao.

NGUYÊN NHÂN SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

– Thói quen đứng hay ngồi lâu gây ứ trệ máu và tăng áp lực tĩnh mạch của chi dưới.

– Huyết khối tĩnh mạch sâu ngăn cản dòng máu trở về tim.

– Viêm tĩnh mạch với hình thành huyết khối trong các tĩnh mạch sâu hoặc nông.

– Khiếm khuyết van do bẩm sinh.

– Nhiều yếu tố khác: nữ giới, sinh đẻ nhiều, béo phì hay quá cân, táo bón kinh niên, di truyền, nội tiết, sử dụng thuốc ngừa thai, môi trường làm việc nóng và ẩm, lười thể dục, hút thuốc lá, tuổi trên 50…

TRIỆU CHỨNG SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

Các triệu chứng và dấu hiệu sớm của bệnh bao gồm:

– Bệnh nhân có cảm giác bó chặt ở bắp chân, nặng chân, mỏi chân, mất ngủ. Có khi thấy tê, kiến bò vùng bàn chân.

– Vọp bẻ (chuột rút) ở bắp chân, thường xảy ra về đêm.

– Sưng phù xung quanh hai mắt cá, thấy rõ vào buổi tối.

– Các triệu chứng thường nặng lên về chiều tối, hoặc sau khi đứng lâu, sau một ngày làm việc, và giảm bớt vào buổi sáng khi ngủ dậy, hoặc sau khi nghỉ ngơi, kê chân cao.

DƯỢC PHÁP

Về dược pháp, sử dụng các bài thuốc tăng cường thành mạch, giảm sức căng nội mạch + cải thiện tình trạng nhược cơ. Bài thuốc cụ thể là bài “Thập Tứ Anh Hào trị suy van tĩnh mạch” với 2 hình thức sử dụng cùng lúc dưới đây:

1/. Dược liệu: Tỏi ta 10g, Đương quy 20g, Xích thược 20g, Hồng hoa 15g, Đào nhân 16g, Xuyên khung 15g, Sinh địa 15g, Thục địa 10g, Hoàng kỳ 12g, Hòe hoa 20g, Đan sâm 20g, Hạt dẻ ngựa (cao) 5g, Cúc vạn thọ (bông, tách Quercetagetin) 5g hoặc cúc vạn thọ (bông và lá) 20g, Ớt (tách Capsaicin) 10g hoặc ớt 4 trái.

Cách làm:

a/. Thuốc uống: 

– 11 vị đầu sắc 2 chén rưỡi còn nửa chén, 3 nước như nhau trộn đều chia làm 3 phần uống trong ngày.

– Cho 3 vị sau vào khi uống.

b/. Thuốc bôt hãm uống như trà.

– 11 vị đầu sấy khô, xay bột.

– 3 vị sau bỏ vào trộn đều.

– Khi dùng, lấy 1 muỗng cafe bột hãm nước sôi trong 1 ly vừa, uống như trà ngày 3 lần.

2/. Công dụng: giảm trương lực thành tĩnh mạch, gây co mạch, giảm kích thước tĩnh mạch, đánh tan huyết khối, kháng viêm, chống phù nề.

3/. Dược trình 25 thang.

Để hỗ trợ trị liệu, cần phụ dụng các bài thuốc tăng cường thể trạng, trị nhược cơ.

Thân ái. 

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 12/2/2017.

BỆNH ZONA

Bệnh zona (zôna hay zôna thần kinh) là một loại bệnh cấp của hệ thần kinh trung ương, do virus varicella zoster nhiễm vào hạch của các rễ sau gây đau dây thần kinh rồi phát ban, nổi nốt phỏng nước cấp tính, có đặc điểm là những thủy bào tụ thành hõm, vành đai mọc theo đường dây thần kinh một bên người, kèm theo triệu chứng đau như lửa châm và các hạch bạch huyết ngoại vi sưng to, giống Herpes trên vùng da thuộc về dây thần kinh đó.

Triệu chứng là ban đỏ, biến chuyển thành mụn nước thành đám kiểu chùm nho với cảm giác ngứa, nóng và rát, xuất hiện ở mọi nơi trong cơ thể (môi, mắt, miệng, nách, bẹn, tay chân và thân thể, thậm chí vào hậu môn, trực tràng hay kích ứng cả vào hệ tiêu hóa, bài tiết và hô hấp gây các biến chứng trầm trọng hơn). Khoảng 2 đến 4 tuần sau thì lành ngoài da nhưng cảm giác đau nóng có thể kéo dài khá lâu. Có biểu hiện viêm ở hạch đàng sau và đôi khi trong sừng sau của tủy. Nốt phỏng là do huyết thanh tiết dưới lớp sừng. 

Những bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt là trên 60 tuổi sau khi bị zona vết loét đã lành hẳn vẫn để lại sự cắn nhức, đau đớn rất lâu, có  người đã bị zona hàng chục năm trước mà vẫn  còn để lại di chứng.

Tỷ lệ người mắc bệnh zona mỗi năm là 1,2 – 3,4 ca mỗi 1.000 người. Tỷ số này tăng lên 3,9 – 11,8 đối với người trên 65 tuổi.

Varicella zoster là Virus gây bệnh thủy đậu, nghĩa là bệnh nhân trước đó đã từng mắc bệnh thủy đậu (trái rạ). Thường thì bệnh nhân nhiễm thủy đậu khi còn nhỏ rồi lành bệnh ngoài da nhưng virus không bị diệt mà ẩn vào trong tế bào thần kinh, hạch thần kinh dưới dạng không hoạt động (tiềm sinh). Sau một thời gian dài, có khi hằng mấy chục năm, virus tái hoạt thành bệnh zona. Virus sẽ lan theo đường đi của dây thần kinh rồi bộc phát ở trên da tương ứng với khu vực của dây thần kinh đó. Động lực khiến varicella zoster virus (giống như Herpes) tái hoạt sau nhiều năm tiềm phục thì với Y Khoa thông thường vẫn còn là một bí ẩn.

Với phương pháp thống kê Y Học thì Y Dược Học Lượng Tử cho thấy nguyên nhân tái hoạt của varicella zoster virus (và Herpes) sau nhiều năm tiềm phục có liên quan với suy giảm miễn dịch / quá tải tinh thần và thể xác / môi trường sống (ô nhiễm hoặc – và thay đổi đột ngột gây sốc nhiệt, sốc biến dưỡng v.v…) / stress kéo dài và cả lối sống (thụ động, thiếu mục đích, lười vận động, suy giảm lạc quan v.v…).

Một số người còn gọi bệnh này là giời leo, tuy nhiên đó là một sai lầm, vì tên gọi này vốn dùng để chỉ các triệu chứng viêm da dị ứng do côn trùng. Bệnh Zona đã được Y Dược Học Lượng Tử chữa lành trong tất cả các trường hợp tiếp cận, ở mọi cấp độ bệnh lý.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 25/8/2015.

VIÊM TAI GIỮA

Bé bị viêm tai giữa thường quấy khóc cả ban ngày lẫn ban đêm, kêu đau ở tai hoặc không nghe được, hoặc ngứa khó chịu trong tai (gãi tai). Biểu hiện đi kèm là sốt bất thường dai dẳng từ 38oC – 39oC. Viêm tai giữa nặng còn có chảy dịch trắng hoặc vàng đục từ tai, có thể có mùi hôi thối.

Có 70% các trường hợp viêm tai giữa là do viêm mũi và viêm họng không được điều trị dứt điểm, dịch tràn vào tai gây bệnh viêm tai giữa (thuốc Tây Y đa phần là kháng sinh chống viêm và chỉ dừng triệu chứng tạm thời, không có khả năng chữa bệnh).

Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm hoặc để lại di chứng nặng nề, rất khó khắc phục, ảnh hưởng đến sức khỏe và có thể gây nhiều biến chứng như: Thủng màng nhĩ, xơ cứng khớp giữa các xương con, mất khả năng nghe, nguy hiểm hơn là viêm màng não – viêm màng não mủ.

Cho nên dược pháp chữa viêm tai giữa phải là một combo liên hoàn tăng cường các hệ tự vệ cho Bé + chữa cả viêm họng và viêm xoang mũi cùng với trị bệnh viêm tai giữa thì mới hết hẳn và không có tái phát.

Dược pháp:

– Viêm 90g + Xoang mũi 70g + Herpes họng 70g + Tăng Hồng cầu 50g + Tăng thể trạng 50g. Dùng ngày 3 lần / lần 1 viên / 1 Kg cân nặng.

Dược pháp có thể gia cường bằng Giải độc 50g + Zika (viên) 50g.

– Thuốc nhỏ mũi và tai 1 lọ, ngày nhỏ 2 lần / lẩn 1 giọt vào mỗi bên tai và mũi.

Chúc con và các bạn thành viên may mắn, khỏe mạnh và thành đạt!

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 14/3/2019.

ĐAU DẠ DÀY

* Cụm từ “đau bao tử”, “đau dạ dày” thực chất đề cập đến nhiều triệu chứng của bệnh ở khu vực dạ dày, là bệnh đường tiêu hóa phổ biến trên thế giới.

1/. Viêm loét dạ dày (bờ cong lớn, bờ cong nhỏ và thân dạ dày).

2/. Viêm loét hành tá tràng.

3/. Viêm đau thượng vị dạ dày.

4/. Viêm đau van dạ dày, thân dạ dày, polyp dạ dày, ung thư dạ dày (thường kèm theo hôi miệng, hơi thở có mùi khó chịu).

5/. Kích ứng dạ dày (đau kiểu vọp bẻ cơ dạ dày, râm ran kéo dài hoặc từng cơn dữ dội, còn gọi là đau bụng bão – dạ dày).

* Nguyên nhân của các chứng đau dạ dày nói trên đều xuất phát từ một (vài) thứ sau đây:

1/. nhiễm  Helicobacter Pylory (HP).

2/. dư lượng của những loại Tây Y có tác dụng gây hại trên dạ dày.

3/. ăn uống sinh hoạt không điều độ.

4/. stress kéo dài: thần kinh căng thẳng làm tăng tiết axit HCl, một trong những nhân tố làm tổn hại niêm mạc, gây viêm và loét dạ dày.

5/. nhiễm virus Herpes tiêu hóa khu trú dạ dày (VN chưa có nhận thức và phương tiện xét nghiệm cũng như trị liêu Herpes hiệu quả).

6/. Ngoài ra còn phải kể đến ăn uống thực phẩm chứa kiềm NaOH lâu dài do sử dụng nước rửa chén không xả kỹ, sẽ gây polyp, gây ung thư hệ tiêu hóa, gây đau dạ dày mãn tính.

* Mỗi nguyên nhân có cách chữa trị rất khác nhau. Cách chữa chung chung của Đông – Tây Y tại VN hiện nay có thể tạm thời làm giảm kích thước các ổ viêm loét nhưng không thể trị nguyên nhân gây bệnh đau dạ dày được. Do đó tái phát và tái phát ngày càng nặng hơn là chuyên bình thường.

Kích ứng ruột – hở van dạ dày

Triệu chứng: Tâm lý không tốt, can tì bất hòa, lâu lâu ợ chua. 

Bài thuốc: Bạch truật 12g, Bạch thược 12g, Bách hoa xà thiệt thảo 15g, Trần bì 8g, Phòng phong 8g, Dạ cẩm (lan lá cẩm)10g, Bông cúc vạn thọ 10g, Bồ công anh 18g, Bột nghệ 10g, Mật ong 15g. 

Cách dùng:

– 12 thang, sắc 3 chén còn 8 phân, 3 nước như nhau chia uống trong ngày.

– 7 thang xay bột uống ngày 2 lần, lần 1 muỗng cafe.

– 5 thang hấp chín xay nghiền, uống ngày 3 lần mỗi lần 1 muỗng canh trước mỗi bữa ăn.

Bài thuốc này dùng cho người thường co thắt dạ dày nhưng “nho nhói” ở gan, lâu lâu ợ chua nhưng không có triệu chứng dư acid, ăn uống thờ ơ, có nguồn stress âm thầm. Là tổng hợp của vài dạng “đau dạ dày” phức tạp.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 2015.

BỆNH GÚT

Là bệnh dễ chữa, tuy nhiên khả năng tái phát (và nặng hơn) sau chữa trị là hơn 96%. Có thể phát biểu kết luận y học theo cách dễ hiểu hơn, Gút là bệnh dằng dai, tái đi tái lại thường xuyên và ngày càng nặng hơn. Gút gây đau đến mức stress, choáng mạnh làm kinh hoàng bệnh nhân nên còn được gọi là THỐNG PHONG.

*Về nguyên nhân trực tiếp, như chúng ta đã biết, Gút do không ổn định Uric máu theo hướng tăng. Gút có hai thể phổ biến là :

– Thể Gút CẤP TÍNH: Biểu hiện bằng những đợt viêm cấp và đau dữ dội của khớp ngón chân cái, nên còn gọi là “gút do viêm”.

– Thể Gút MẠN TÍNH: Biểu hiện bằng dấu hiệu nổi các cục “tophi” và viêm đa khớp mạn tính, do đó còn được gọi là “gút do lắng đọng”.

** Về nguyên nhân sâu xa, Gút được xem là có nguồn gốc từ:

a/. DI TRUYỀN: Trong gia đình có bố mẹ mắc phải bệnh gout thì nguy cơ đến thế hệ con cháu nguy cơ mắc bệnh chiếm tỉ lệ 35- 40%. 

b/. THÓI QUEN ĂN UỐNG: dùng nhiều những thức ăn có chứa purin (Gan, lòng, thịt, cá, tôm, cua) dùng nhiều bia, rượu. Việc ăn uống quá nhiều chất đạm làm tăng axit uric trong máu, lâu ngày sẽ gây tích tụ các tinh thể muối urat tại các khớp gây bệnh Gút.

c/. CHỨC NĂNG GAN, THẬN kém làm giảm quá trình đào thải axit uric trong máu gây bệnh Gút. 

Chữa Gút phải theo 3 dược trình sau:

1/. Giảm triệu chứng (8 thang thuốc, uống trong 16 ngày).

2/. Ổn định và loại trừ sự tăng Uric máu (16 thang thuốc, uống trong 16 ngày).

3/. Kiện toàn các hệ chức năng nội tạng, chống tái phát (20 thang, uống trong 40 ngày).

I/. Dược trình 1: Cam thảo đất 15g, táo mèo 15g, vỏ bưởi 25g, hạt chuối sứ 10g, củ ráy tía 10g, củ sơn thục 10g, củ khúc khắc 10g, lá lốt 20g, dây tơ hồng 10g, cà gai leo 15g, củ tỏi đỏ 10g, cây bồ công anh 10g, lá vông nem 10 lá.

Sắc 3 nước như nhau, 3 chén còn 1 chén, trộn đều chia đôi, mỗi ngày uống một phần.

II/. Dược trình 2: Cua đồng 1 con, lá lốt 20g, đậu xanh (rang vàng) 20g, hạt sen 15g, nấm lim xanh 15g, rau diếp cá 15g, nhộng tằm 10 con, râu bắp 10g, rễ tranh 5g, lạc tiên 10g.

Sắc 2 nước như nhau, 3 chén còn 1 chén, uống 2 lần trong ngày.

III/. Dược trình 3: Cải bẹ xanh 30g, bột sắn dây 10g, bột đậu xanh 15g, chuối chát 15g, rau má 15g, cỏ mực 20g, lá trầu 5 lá, củ tỏi trắng 1 củ đập giập, lạc tiên 10g, lá vông nem 5 lá, rễ tranh 5g.

Sắc 3 nước như nhau, 3 chén còn 1 chén, trộn đều chia đôi, mỗi phần uống trong 1 ngày.

*** Bài thuốc này của Y Dược  Học Lượng Tử rẻ tiền, tự tìm, mua và làm ở nhà không cần cầu cạnh ai cả nhưng chữa bệnh Gút rất nhanh chóng và tiêu trừ mọi nguy cơ tái phát có thể có.

****Trong thời gian phục dược (nhất là dược trình 1 và 2) thì cần giảm bớt việc ăn uống thực phẩm qúa nhiều đạm, tránh nhậu nhẹt say sưa nhưng không khắc nghiệt đến mức cấm dùng.

Chúc các bạn mau hết bệnh, lấy lại sức khỏe và phong độ để góp phần của mình xây dựng và bảo vệ Đất Nước.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 2015.

LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG

(Systemic lupus erythematosus)

Lupus ban đỏ là bệnh tự miễn, trong đó hệ miễn dịch tấn công các tế bào khỏe mạnh của cơ thể dẫn đến tình trạng viêm mạn tính và tổn thương các mô, đa tạng. Có 2 dạng Lupus chính :

LUPUS BAN ĐỎ DẠNG ĐĨA (thể mạn) là thể thường gặp (chiếm 77% trường hợp), vị trí thường là ở đầu, niêm mạc môi, lưng bàn tay hay khuỷu tay, khoeo và bắp chân, thường có khoảng 1-3 đám phát ban mỗi chỗ. Ba triệu chứng cơ bản là: ban đỏ, dày sừng, teo da. 

LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG là thể nặng nhất, có thể tiên phát hoặc thứ phát từ các bệnh khác, thể khác chuyển thành. Bệnh có khi cấp tính, có khi từ từ, nhiều trường hợp tử vong sau thời gian ngắn, có khi lại diễn biến mãn tính, lúc tăng lúc giảm thất thường. Tổn thương da và niêm mạc giống như Lupus dạng đĩa, nhưng đa dạng hơn, rộng khắp. 

LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG LÀ BỆNH HIẾM GẶP, tiên lượng cực xấu, bệnh nhân thường tử vong sau một thời gian mắc bệnh. Nguyên nhân gây bệnh do vi rút nhóm Herpes B tác động vào hệ miễn dịch, gây mù lòa cho Lympho T, Lympho B, cơ thể tự tấn công chính mình gây viêm, tổn thương cấp các cơ quan nội tạng, xương khớp trong cơ thể.

BIỂU HIỆN BỆNH LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG là:

ĐAU KHỚP: khoảng có 90% đau các khớp to nhỏ chân tay, biển hiện viêm khớp phong thấp, có khi dẫn đến teo cơ biến dạng, đau khớp cố định hoặc di chuyển.

TỔN THƯƠNG ĐA TẠNG: 

– 30-50% tổn thương tim mạch (viêm nội hoặc ngoại tâm viêm màng tim, viêm cơ tim, tổn thương mạch máu và thành mạch), 

– 45-75% tổn thượng thận (viêm cầu thận, suy thận cấp), 

– 25% biểu hiện biến chứng tâm thần kinh (co giật, liệt nứa người, rối loạn tâm thần, viêm dây thần kinh ngoại biên), 

– 20-60% tổn thương phổi (viêm phổi, viêm màng phổi, phổi ứ nước). 

– Ngoài ra (có thể) kèm theo rối loạn tiêu hoá và bài tiết; viêm gan, viêm lách, sưng hạch rải rác, rụng và bạc tóc, viêm nang lông, viêm âm đạo, viêm tử cung, viêm vòi trứng và buồng trứng v.v…. 

– Sốt thường không cao, nhưng cũng có lúc cao đến 40-41 độ C (diễn tiến cấp tính).

Bệnh có triệu chứng lâm sàng rất đa dạng và bệnh cảnh phức tạp, rất khó chẩn đoán chính xác, nhất là thể lupus không có tổn thương ngoài (trên đây chỉ giới thiệu 2 thể lâm sàng thường gặp). Tây Y hóa dược không thể chữa được bệnh Lupus ban đỏ hệ thống mà chỉ làm giảm các triệu chứng của bệnh, kéo dây dưa đến khi nào bó tay thì trả về.

TUY NHIÊN ĐỪNG QUÁ LO, vì Lupus ban đỏ hệ thống hoàn toàn có thể chữa lành bằng Y Dược Lượng Tử.

DƯỢC PHÁP

1/. Giải độc cơ thể

a/. Giải độc cấp (7 ngày) và giải độc cấp độ tế bào (2 liệu trình trong 24 ngày).

b/. Sử dụng combo Fucid để giải phóng độc tố trực tiếp trên các vùng biểu bì tổn thương.

2/. Bài thuốc Lupus ban đỏ 1

Sài hồ 12, Bạch truật 12, Bạch thược 12, Trần Bì 8, Trích thảo 6, Sinh khương 12, Bạc hà 10, Bạch linh 12, Sinh địa 12, Xích thược 15, Đào nhân 16, Xuyên khung 6, Cát cánh 6, Cam thảo 4, Hồng hoa 12, Chỉ sác 8, Ngưu tất 12, Qui đầu 12, Chùm ngây 12, Calcium Melias 12, Thục địa 12, Hoài sơn 12, Ớt đỏ 3 trái.

Đơn vị: gam

Sắc 3 chén còn 1 chén, 3 nước như nhau uống trong ngày.

Tác dụng: đánh dấu tế bào ngoại sinh và phái sinh, dùng hệ đồng hóa – dị hóa để “tiêu hóa” và đào thải chúng ra khỏi cơ thể, giảm và ly khai các phản ứng gây độc. Khôi phục đa tạng (chủ đạo là bì tạng) và đa khớp.

Dược trình: Sau 12 ngày, có kết quả tốt thì chuyển sang bài Lupus ban đỏ 2.

3/. Bài thuốc Lupus ban đỏ 2

Đẳng sâm 16, Bạch truật 12, Lược vàng 10, Cam thảo 4, Hoài sơn 12, Biển đậu 12, ý dĩ 12, Trần bì 6, Cát cánh 8, Liên nhục 12, Xa nhân 6, Bạch linh 16, Quế chi 12, Nội kê kim 10, Lá cây chay 5 lá.

Đơn vị : gam

Sắc 3 chén còn 8 phân, 3 nước như nhau uống trong ngày.

Tác dụng: hoàn phục tích cực chức năng đa tạng, đa khớp.

Dược trình 25 thang.

4/. Khôi phục hệ đồng hóa – dị hóa sau khi hết bệnh. Uống nhắc bài thuốc

Lupus ban đỏ 2 sau mỗi 2 tháng (7 thang) trong vòng 1 năm.

Chúc các bạn bệnh nhân Lupus chữa lành bệnh, tìm lại được cuộc sống lành mạnh và niềm vui sống để cống hiến và phụng sự cho gia đình và Tổ Quốc.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 19/1/2017.

HỘI CHỨNG ĐẬU LÀO

Đậu Lào không phải là bệnh mà là một hội chứng, dân gian còn gọi là bênh “vú sề”, xếp vào bệnh thời khí, thường xuất hiện vào giai đoạn giao mùa. Nguyên nhân được xem là do huyết thụ độc khí, huyết nhiệt sinh ra.

Đậu Lào không khó trị, nhưng thường khó đáp ứng do không có bài thuốc chuyên biệt, trong dân gian vẫn thường lan truyền các kiểu chữa không hoặc kém hiệu quả, chỉ giảm nhẹ triệu chứng mà bệnh vẫn còn đó, nhanh tái phát hoặc tái phát theo mùa vào mỗi năm.

*Chữa đậu Lào với bài thuốc: Địa long Sài hồ thang.

Địa long 15 gam (nướng vàng), Lá chanh tươi 8 gam, Sinh địa 20g, Đương quy 16g, Bạch thược 12g, Hoàng cầm 12g, Tri mẫn 12g, Sài hồ 8g, Kim ngân hoa 16g, Cát căn 8g, Liên kiều 4g, Trần bì 4g, Cam thảo 4g, Sinh khương 1 lát.

Gia giảm: nếu sốt nhiều, bụng ì ạch, nước tiểu đỏ thì gia thêm Đại hoàng 12g, nghiền hoặc mài với thuốc mà uống.

Công dụng: thanh tâm giải nhiệt, lương huyết, tiêu độc, chuyên chữa trị đậu Lào. Khi uống thuốc thấy tiêu chảy là đúng, vì thuốc đã thanh được huyết nhiệt, tiêu được nhiệt độc mà đi tiêu chảy. Hết tiêu chảy là hết bệnh.

Chú ý: chỉ nên ăn các thức ăn dễ tiêu.

Cách dùng: Bài thuốc có 3 cách dùng, tùy theo điều kiện mà sử dụng (trong đó cách 3 là tốt nhất):

1/. 12 thang, ngày 1 thang, sắc 3 nước như nhau, 3 chén còn 8 phân trộn đều chia uống trong ngày. Tổng dược trình 12 ngày.

2/. 7 thang, sao khô xay bột, viên hoàn, chia uống trong 14 ngày.

3/. 6 thang, rửa sạch dược liệu, hấp trong nồi áp suất 30 phút, dùng máy nghiền / nén, gia thêm 40g đường mỗi thang để có Sirop Đậu Lào. Chia uống trong 15 ngày.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 24/5/2017.