BÍ ẨN 5000 NĂM CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG KIM TỰ THÁP AI CẬP – Phần 3

PHẦN III : SA ĐIỀU : NHỮNG ĐIỀU CHƯA NÓI.

1. Sa điều chuyển cát : Khi cát đã được “sấy” khô dưới ánh nắng mặt trời gay gắt của các vùng sa mạc, thì nó sẵn sàng cho một cuộc du lịch , dù với chỉ một làn gió không lớn. Tại sao vậy?

– Xét trên một hạt cát mẫu, khi vừa di chuyển, nó trượt và cọ sát lên các hạt cát kế nó, thì nó đã đã tạo ra tĩnh điện bề mặt.

– Từng cụm, nhóm cát hạt cát sẽ trao đổi điện tích và mau chóng đồng đẳng điện tích với nhau. Những hạt cát trong phạm vi một cụm cát sẽ có hiện tượng đẩy nhau do có cùng dấu điện tích (hạt cát mang điện dương phía trên, hạt cát mang điện âm “trầm” xuống dười và bị trung hòa điện tích). Nó mau chóng xốp lên và phồng như một túm bông. “Túm bông” cát này sẽ nhanh chóng được các luồng gió nhẹ (>3ms) mang đi rất xa hàng Km mới rơi xuống.

– Hiện tượng đó nhanh chóng tạo phản ứng dây chuyền trên bề mặt của cả một vùng rộng lớn trên sa mạc cát. Nó tạo thành một vùng có tính hoạt động rất cao. Có khi nó tạo ra một khu vực khá lớn và có độ hoạt động rất sâu trên đại mạc, gọi là vũng lấm.

Trích dẫn:
Vũng lấm là một khu vực khá rộng hình thành ngẫu nhiên trên sa mạc. Nơi đó, cát rất xốp do hiệu ứng xô đẩy tĩnh điện, có khi sâu hàng chục mét. Người và vật trên sa mạc khi vô tình vào vũng lấm sẽ bị nuốt chửng, bị chôn sâu nhiều mét mất tích, là một cái chết rất nguy hiểm và khó tránh.
Hiện tượng vũng lấm, có nhiều nơi ở Việt nam gọi là “cát lầm”, và nhiều cái chết thương tâm đã xảy ra dưới sự hiểu biết rất kém, trong sự giải thích mập mờ rất hạn chế của các giới KH VN và cái nhìn mang nét thần bí đặc trưng của cư dân bản địa….

Ca dao cổ VN cũng nhăc đến hiện tượng cát lầm với ý nghĩa là một mất mát lớn vì ngộ nhận :
Hoa sen mọc bãi cát lầm
Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen…
………………………………………………….
Chắc trời soi xét nơi đâu
Chẳng soi cảnh thảm cảnh sầu này chọ

Dị bản :
Đem thân vào chốn cát lầm
Cho thân lấm láp như mầm ngó sen
Đêm đêm ngồi tựa bóng đèn
Than thân với bóng, giải phiền với hoa

– Cát, vì thế mà không còn là “khối” cát mà là “đám bông gòn” cát khi có gió thổi tung lên. Và cứ theo hiệu ứng tĩnh điện mang tính dây chuyền đó, nó được gió không cần quá lớn (chỉ cần > 3 Kms) chuyển đi không mấy khó khăn. Một đêm gió – cát trên đại mạc, ngang với 1.000 máy xúc ủi hiện đại 2500 mã lực làm việc suốt một tuần lễ.

2. Đón cát : Chuyển cát đi thì đã thấy năng lực lớn lao của kỹ thuật sa điều. Nhưng việc tập kết cát về ngay chân Kim Tự Tháp dở dang kia, là cả một sự kinh khủng của trí tuệ ông cha cổ đại của chúng ta.

HỌ DÙNG KỸ THUẬT VI BA

Đó là một vài căn phòng trống rỗng và kín, xây dựng đầu tiên bên trong nơi sẽ là Kim Tự Tháp. Nó cộng hưởng với các giai âm, các chuyển động cơ học trong khí quyển và còn do tiếng trống, tiếng đàn hát, tiếng động di chuyển v.v… của các nhạc công, thợ xây dựng nũa, để tạo ra các dao động vi ba.

Các sóng vi ba này sẽ trung hoà điện tích của các hạt cát đang rất hoạt động do chứa điện tích. Do đó mà chùng trở nên nặng hơn và rơi xuống chân công trình. Các tính toán về tần số, về nặng lượng tới hạn của các hạt cát đủ để trung hoà bằng sóng vi ba đã được hoàn tất.

Trích dẫn:
. . . bên trong lòng Kim Tư Tháp Cheopk có những căn phòng trống rỗng, cộng hưởng tần số vi ba với cường độ và biên độ rất cao, mà cho đến nay chưa ai biết là nó dùng để làm gì ….
… một vài ý kiến cho rằng nó là linh kiện chủ sóng viễn thông liên hành tinh khổng lồ của những nhân vật khổng lồ đến đây từ các hành tinh xa xôi và xây dựng nên Kim Tự Tháp ….
(trích wikipedia)

TÂM SỰ “MỎNG”

Xin nói nhanh, xem như không phải trả lời “trả vốn” gì, mà là tí ti “tâm sự mỏng” về quá trình nghiên cứu nhỏ nhoi của mình cho rộng đường dư luận (hay đùa vui gì cũng được).

– Vũ Kim đã từng đi lang thang, chịu đói khát và…. nám đen cả người trên sa mạc Egypt hơn 4 tháng ròng rã, mong tìm “thứ gì đó” mà rốt cục chả thấy gì hết. Đó là cách đây gần 30 năm, thời còn… đi làm mướn kiếm tiền học đủ thứ. Cái vụ đi tìm “thứ gì mình chẳng biết” này là do một tay nghiên cứu Ai Cập học đài thọ để tìm cho một ít dữ liệu anh ta chứ không phải anh Vũ Kim tự đi nghiên cứu đâu (lấy tiền học thêm mà). Do anh Vũ Kim may mắn có chút đỉnh ngữ Egypti, mà cái tay “nghêng” cứu nọ thì … không biết chữ Egypti nào. Buồn cười chưa !!!

– Gần 15 năm sau đó, lúc nghiên cứu gạch không nung của đền tháp Champa (xin xem “công nghệ gạch không nung hoá thạch” cùng tác giả) ở nhiều nơi trên đất VN, từ tiểu sa mạc Hương An Quảng Nam – Ba làng An rồi Đồng Dương, Tam Quan (Bình Định), kéo dài đến tiểu sa Bàu Thiêu – Giếng Đá thuộc Chiến Khu Lê Hồng Phong huyền thoại, đến di tích Đại đồn Mang Thít (ngữ Champa, phiên âm tiếng Việt là… Phan Thiết ngày nay) thì anh Vũ Kim mới tình cờ gặp các thầy phù thuỷ sa điều.

– Chứng kiến họ đốt nhang khấn vái, hô phong hoán vũ, kêu gọi thần linh nhiều lần, với con mắt của nhà Lượng tử học và mớ ngữ Champa “giả cầy” học đủ để đi nghiên cứu, anh Vũ Kim nhìn ra ngay khía cạnh vật chất của nó, và hình ảnh sa mạc gió – cát Arabia ùa về. Qua một đêm, hàng ngàn mét khối cát đã được đưa vào đúng chỗ cần thiết, lượng cát mà phải cả nghìn xe ủi hiện đại làm mướt mồ hôi hàng tuần mới mong xong viêc.

Anh chợt “ngộ” ra rằng, tổ tiên Arabia của chúng ta cũng làm chẳng khác.

Gấp rút học mỗi thứ một chút đỉnh ngữ Mongolia, Turmenistani, Pakistani, Afganistani, Arabi và một loạt các ngữ du mục Tân Cương và Trung Á, anh tìm thấy những dấu vết của kỹ thuật sa điều ở khắp mọi nơi nào có sa mạc, …. kể cả ở Egypt (Ai Cập) và Greck (Hi Lạp) cùng bài học chiến thuật sa điều của Đại Hãn Gengis Khan giáng xuống các đại đồn Arab – Ba Tư.

Có một điều khiến cho các nhà nghiên cứu khắp nơi phải thất bại, khó tiếp cận kỹ thuật sa điều, đó là kỹ thuật sa điều ẩn giấu trong hoạt động phù thuỷ mà ta vẫn mê muội cho là mê tín dị đoan.

Do đó mà không ai thèm ngó tới.

Trích dẫn:
Những phù thủy vùng gió cát quả là những chuyên gia khí động thực thụ.

– Như trong bài trên đã nói, muốn ứng dụng kỹ thuật sa điều phải nắm rõ tình hình độ ẩm, hường gió, thuỷ mạo khu vực, nói chung là những chỉ tiêu phong thuỷ. Nếu muốn ứng dụng nó (kỹ thuật sa điều) trên sa mạc Egypt, chắc chắn là anh Vũ Kim phải bỏ ra ít nhất vài năm ăn dầm nằm dể ở Ai Cập hầu tìm ra qui luật phong thuỷ ở đó.

Trích dẫn:
Với một số hiểu biết về hướng gió, phong thổ, họ dễ dàng tạo ra các vùng đất, chỏm đồi v.v…

(Có thể là sau 10 năm, Vũ Kim sẽ đi Nam Tư rồi qua Ai Cập vài năm để hoàn tất thực chứng khoa học của kỹ thuật sa điều trên sa mạc Egypt, hoàn tất luận chứng khoa học xây dựng cổ Ai Cập vô tiền khoáng hậu này, rồi mới về VN qui ẩn.

– Về cách chế tạo ra đá bằng nguyên lý hoá thạch thì anh Vũ Kim đã thực nghiệm hàng trăm lần, mẫu đá hoàn toàn giống với thiên nhiên, và quan trọng nhất là giống với…. đá Kim Tự Tháp. Độ bóng gia công và độ cứng kiến tạo, độ bền hoá và cơ tương tự với đá Hoa cương ở kỷ Đệ Nhị (Second periode palace) mà anh em học Kiến Trúc hay xây dựng chắc chắn phải biết.

Chúng dính nhau hay không qua cách xây dựng kỳ diệu này ? Cứ xem một con dao “lam” cạo râu mỏng dính cũng khó mà len vào giữa hai mép ghép của các khối đá, thì chúng ta có thể nói nó dính hay không dính? Nếu địng nghĩa “dính” là một liên kết cơ – lý – hoá học cho phép hai khối, mảng vật thể khác nhau được áp chặt vào nhau đến nỗi khó tách rời bằng cơ học (trích Larousse – Bách Khoa Đại Từ điển Pháp Âu – Bản tiếng Đức – 6th edition – Lib Fabrik – Bonn – 1995) thì có nghĩa là chúng dính nhau.

Hay nói khác đi, cấu trúc Kim Tự Tháp Kheophk tương tự một khối liên kết thống nhất, mà đó cũng là một phần tạo nên tuổi thọ công trình kinh hoàng – 5.000 năm – và chưa biết đến bao giờ chấm dứt.

– Không có giả thuyết nào của các lão ngư Bình Thuân. Trích lại câu hỏi của secondhand :

Trích dẫn:
Cho hỏi anh Vũ Kim rằng cái “giả thuyết” của các bác Bình Thuận có công bố cho cả thế giới biết chưa vậy ?

Vì người lập giả thuyết là anh Vũ Kim chứ không phải họ. Họ, những bác Sáu Hạp, bác Bổn La (Bình Thuận) v.v… hay các bác Chang Lu~ Hing (Trang Lực Hành – Tân Cương), anh Muhtah Salamando (Turmenistani), Ganilost Nadem (Pakistani) v.v… là hiện thực chứ chưa và không bao giờ là giả thuyết, và họ cũng chẳng màng đến giả thuyết, vì họ cũng chẳng biết Egypt ở đâu, không như anh – Kim – nghiên – cứu – vớ – vẩn (họ nói thế).

Ngôn ngữ Khoa học cần trong sáng và chính xác, nên anh buộc phải đính chính như thế, mong là không phiền lòng các bạn.

– Đề tài này anh Vũ Kim đóng lại từ lâu, dự định lâu lắc mới mở ra lại và hoàn tất nó. Nhưng xuất phát từ một yêu cầu của các bạn nên mở ra sớm hơn dự định… gần 10 năm.

Việc công bố thì anh em không lo, vì ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước, anh Vũ Kim đả có viết ngắn thông báo trên các tạp chí nghiên cứu KH nổi tiếng là Nature và Science et Vie, xem như “xí phần” trước.

Đôi dòng ngắn ngủi, xem như là tự sự về một công trình, mong là “mua vui cũng được một vài trống canh”.

Vũ Kim.

LƯỢC SỬ CỔ ĐẠI VIỆT NAM – Phần 3

Phần III : QUỐC GIA ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT, và
HIẾN PHÁP ĐẦU TIÊN CỦA NHÂN LOẠI

Năm 1221 TCN, đoàn người Âu (甌), còn gọi là Tây Âu (西甌) thuộc chủng Arriane trên đại bình nguyên lưỡng hà Ấn – Hằng từ phía Tây Trung Hoa tràn vào đất Lĩnh Nam của cư dân Bách Việt. Họ nhập vào các nhóm Bách Việt và dần dần trở thành một bộ phận của Bách Việt và càng ngày càng xa rời phong tục tập quán của lưu vực Ấn – Hằng, nên được gọi là Âu Việt (甌越). Họ cao lớn, có năng lực thể chất và thể trạng hơn hẳn các nhóm dân Bách Việt khác, ưu thế trong chiến đấu và xây dựng của họ nhanh chóng được khẳng định và trở thành một đầu tàu, một ngòi nổ mạnh trong cuộc chiến không ngừng giành quyền sống của cộng đồng bách Việt trong thời mông muội của lịch sử.

Khi đoàn người Bách Việt tràn xuống phương Nam tìm đất sống thì đại bộ phận Âu Việt lang thang qua các vùng đất lửa Trung Hoa, Tây Á; một bộ phận của họ đi đến cả phần đất Âu Châu hiện nay. Họ dần dà quay lại đất Lĩnh Nam, theo chân đoàn di dân cơ học Bách Việt về đất Giao Châu và quần cư với người Lạc Việt trên dải đất lưu vực sông Hồng phì nhiêu màu mỡ.

Năm 227 TCN, thủ lĩnh Tây Âu mượn tiếng họ Thục để giành lấy quyền làm chủ phương Nam và lập ra Vương Quốc Âu Lạc đầu tiên trong lịch sử Giao Châu.

Trích dẫn:
Cho tới đầu công nguyên thời Hai Bà Trưng, người Việt vẫn chưa có họ. Do đó họ Thụccủa An Dương Vương là một nghi vấn. Nước Thục (ở Tứ Xuyên ngày nay) mất năm 316 TCN. Chống Tần thất bại, con cháu họ chạy xuống phía bắc nước Văn Lang, sống với người Âu Việt. Sau một thời gian đứng vững, thủ lĩnh Âu Việt thôn tính Lạc Việt. Không hẳn thủ lĩnh Âu Việt đã là dòng dõi nước Thục cũ mà có thể chỉ là con cháu của tướng lĩnh, quan lại cũ của Thục, xưng làm họ Thục để thu phục nhân tâm vùng Âu Việt.
Bộ sử lâu đời nhất và gần thời An Dương Vương nhất là Sử ký Tư Mã Thiên chỉ nhắc tới nước Âu Lạc mà không nhắc tới An Dương Vương họ Thục.

Không còn nghi ngờ gì nữa, chính An Dương Vương mới là người xây dựng nên cường quốc Âu Lạc , 227 TCN. Một cuộc giao hoà rất đẹp giữa hai nguồn GEN : Lạc Việt có ưu thế khéo léo và khả năng ngôn ngữ cộng với Âu Việt có tính trạng tuyệt vời, hiếu chiến và giàu tính phấn đầu (*)

HIẾN PHÁP ĐẦU TIÊN CỦA NHÂN LOẠI

Thế giới công nhiên thừa nhận Hiến Chương Octavius – Hoàng Đế La Mã – công bố khoảng năm 240 là hiến pháp đầu tiên của nhân loại.
Cần chú ý rằng Chiếu “Lịch Dân Lập Quốc” của An Dương Vương nhằm khẳng định vương quyền Âu Lạc công bố trước Hiến Chương Octavius gần 500 năm (chính xác là 467 năm) mới là Hiến Pháp đầu tiên của Nhân Loại. Niềm tự hào của người Việt là từ niềm kiêu hãnh Âu Lạc chứ không phải là Con Rồng Cháu Tiên gì gì đó đầy ảo ảnh. Tiếc là vào thời đó (227 TCN), người Việt chưa có chữ viết, chưa có cả chữ Nôm nên Hiến Pháp đầu tiên của người Việt và Nhân loại phải viết bằng chữ Hán cổ, trúc trắc và đầy dị bản.

==================================

(*) Từ nguyên nhân này mà trong cộng đồng người Việt, thậm chí trong một gia đình, thường có 2 nhóm tính trạng khá tương phản thể hiện 2 nhóm GEN : chị (anh) cao lớn kiểu Âu và em (trai, gái) đậm người kiểu Lạc. 
Ví dụ : Hai chị em Thuý Kiều – Thuý Vân được Nguyễn Du diễn tả rất tinh tế các xu thế tính trạng :
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
…….
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Phân tích ngữ nghĩa cho thấy Vân đẹp kiểu đầy đặn, sung mãn kiểu Lạc, còn Kiều thì lại cao gầy, ẻo lả kiểu Âu, như dáng vẻ cái đẹp hiện đại…
*** Xin khẳng định lại một lần nữa là ở đây chỉ có vấn đề GEN trội, GEN lặn trong một dân tộc Việt Nam thống nhất và duy nhất chứ không có bất cứ vấn đề chủng tộc hay sắc tộc nào khác. Mọi luận điệu khác đi là hoàn toàn sai lạc với lịch sử thật sự đáng tự hào của Dân Tộc Việt Nam.

===========================

TRẢ LỜI NHANH

1/. Nhắc lại cho rõ : Thục Phán không phải là tên thật của An Dương Vương. Nói khác đi thì :
Trích dẫn:
Năm 227 TCN, thủ lĩnh Âu Lạc mượn tiếng họ Thục để giành lấy quyền làm chủ phương Nam và lập ra Vương Quốc Âu Lạc

Khi đoàn Bách Việt xuôi xuống phương Nam, có cả binh tướng Âu Việt, thì :
Trích dẫn:
đại bộ phận Âu Việt lang thang qua các vùng đất lửa Trung Hoa. Họ dần dà quay lại đất Lĩnh Nam, theo chân đoàn di dân cơ học Bách Việt về đất Giao Châu và quần cư với người Lạc Việt…

Khi đến Tứ Xuyên, tàn binh nhóm con cháu nhà Thục chống Tần thất bại nhập vào với họ (Âu Việt) và dần dà về lại đất Lĩnh Nam, sống cùng người Lạc Việt. Người Âu Việt do đó học hỏi được phương thức tổ chức nhà nước phong kiến của người Thục.
Thủ Lĩnh của người Âu Lạc là Bạch Mạo Tướng Quân (Tướng Mặt Trắng, không phải là họ tên) mượn danh nhà Thục, lấy chiêu bài “chân mệnh đế vương” để qui tụ lòng dân cả hai nhóm Âu Việt và Lạc Việt mà lập ra Vương Quốc chính danh Âu Lạc. vào năm 227 TCN. Đây là nhà nước (phong kiến) đầu tiên của người Việt. ( Thục Khoán – tức Thục Phán – nghĩa là “được nhà Thục giao cho” mà chúng ta vẫn tưởng lầm là tên họ, thực chất là đòn chính trị tuyệt vời của Bạch Mạo Tuớng Quân).
2/. Lòng dân hướng về cuộc kết hợp tuyệt vời của hai tộc Bách Việt đó , được phản ánh bằng huyền sử Thần Kim Quy trao nỏ thần cho An Dương Vương (*) . Công cuộc dựng nước và giữ nước thành công do được cả đất trời, nhân dân và thần thánh hỗ trợ, nói lên rằng người dân Việt đã thấy được tính “danh chính ngôn thuận, hợp lòng trời đẹp lòng người” của vương quốc thần thánh Âu Lạc.
3/. Niềm tự hào chính đáng nhất, sự nghiệp đáng tôn trọng nhất, lịch sử hiện thực nhất của cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới trong và ngoài Tổ Quốc phải là Âu Lạc uy nghi kỳ vĩ.
Trước Âu Lạc khổng lồ, hiến chương Octavius chỉ là chú bé con mà thôi….

================================

(*) “Đại Tý Vương” (vua tay lớn) là một thần cơ (người có biệt tài chế tạo) , đã chế tạo đồng cơ (lẫy nỏ bằng đồng) làm cho cung nỏ bình thường trở nên bắn được nhiều phát liên tiếp với tốc độ nhanh.
Người mang công nghệ chế tạo Liên Châu Nỗ (nỏ bắn liên tục) trao cho An Dương Vương để vị vua tài đức của đất nước Âu Lạc tranh hùng với thiên hạ, dựng thành Cổ Loa và giữ nước thành công trước các cuộc xâm lăng và nội chiến do các tộc Việt bất mãn chưa qui thuận (huyền sử hoá thành ác điểu và các loài ma quỉ). Do công đức lớn lao mà Người được thánh hoá thành một trong các thượng đẳng tối linh thần của người Việt : Thần Kim Quy.
Tất cả bí mật nằm trong cái lẫy nỏ hình…. móng rùa. Sự thánh hoá thành thần Kim Quy không phải là không căn cứ.
Bản vẽ và phương pháp tác chiến của Liên Châu Nỗ đã được Dr. Kim viết trong một sưu khảo Khoa Học Quân Sự (1999) trên “Humanese History Reseach” (Đức) và các phân tích kèm theo cho thấy Liên Châu Nỗ là một khí tài quân sự hạng nhất trong thời kỳ đó, và kéo dài nhiều trăm năm sau. Cụm từ “Nhất động bách tiễn” (một cử động bắn ra trăm mũi tên) không phải là nói ngoa hay thần thánh nào cả : Đó là trận địa Liên Châu Nỗ điều động dưới đại hồng kỳ. Một cú phất của lá cờ lệnh là hàng trăm mũi tên Âu Lạc – Kim Quy bắn ra, biến địch nhân thành hình con nhím.
Quả là vũ khí đáng kinh sợ của người Âu Lạc làm cho họ có thể hùng cứ phương Nam….

=======================================

TỒNG KẾT

1/. An Dương Vương là người Việt mượn danh nhà Thục chứ không phải là người Trung Hoa.
Tương âm đồng vị giữa Ph và Kh có rất nhiều tiền lệ. Như Kh ai và Ph á, Kh ôi và Ph ục,Kh ương tuyến và Ph ương tiến. Do đó mà từ “khoan đã” trong ngôn ngữ Nam Bộ vẫn nhiều người người nói thành “phang đã”.
Thục Khoán và Thục Phán là nội suy lịch sử như vậy.
2/. Người Tây Âu đã đồng hoá hoàn toàn vào Bách Việt để trở thành Âu Việt, là người Việt đúng nghĩa trong một dân tộc Việt Nam vĩ đại không thể chia cắt. Do nhận thức sai lầm mà rất nhiều sử gia VN vẫn cho rằng An Dương Vương là người Trung Hoa, do đó mà vẫn né tránh nội dung và thế đứng hùng vĩ của văn minh Âu Lạc. Ngay cả Nguyễn Trãi mà còn sai lầm đến mức liệt Triệu Đà – Nam Việt của người Hán vào tiền triều Việt Sử … (*)
Có thể nào không có lý do lịch sử mà dòng họ Nguyễn Trãi phải nhận lãnh án tru di tam tộc ? Nhận định lịch sử sai lầm có phải là một trong những lý do đó hay không ?
3/. Quan hệ chính trị thời Lạc Việt không hề có ý nghĩa Quốc gia và chỉ là quan hệ cát cứ kiểu lãnh chúa mà không có tổ chức nhà nước. Lạc Vương thời Lạc Việt chỉ có ý nghĩa tượng trưng, thực chất đó là một lãnh chúa Lạc Việt có uy tín nhất (mà không phải là mạnh nhất), dàn hoà được các mối mâu thuẫn giữa các lãnh chúa, được tôn vinh như một biểu tượng tinh thần. Chỉ duy nhất Âu Lạc là quốc gia đầu tiên của người Việt.
4/. An Dương Vương học được kinh nghiệm tổ chức Nhà nước phong kiến từ người Thục nên tổ chức thành công một nhà nước Âu Lạc. Nhận thức được quan niệm “chân mạng đế vương” và lợi dụng nó để dựng một tổ quốc Âu Lạc chính danh, là công trạng to lớn nhất trong lịch sử VN.
5/. Văn minh Cổ Đại Việt Nam là văn minh Âu Lạc chứ không phải văn minh Lạc Việt như các sử liệu phổ thông vẫn nói.

=============================

Chú thích:
(*) Triệu Đà : Năm 210 tr.CN, Tần Thuỷ Hoàng chết, con là Tần Nhị Thế lên thay, đế chế Tần suy yếu dần. Những quận mới lập được ở phía Nam Trung Quốc, trên thực tế, thoát dần khỏi sự quản lý và kiểm soát của chính quyền nhà Tần. Lợi dụng cơ hội đó, Nhâm Ngao và Triệu Đà chiếm Nam Hải, xây dựng một Vương quốc riêng, chống lại nhà Tần.

Nhâm Ngao chết, Triệu Đà thay thế đã thực hiện mưu đồ cát cứ.

Triệu Đà người Hán, quê ở Hà Bắc-Trung Quốc. Sau khi Nhâm Ngao chết, Triệu Đà làm chủ Nam Hải, diệt các quan lại của nhà Tần để thay bằng những người thân cận.

Năm 206 tr.CN, nhà Tần đổ, Triệu Đà liền tiến quân đánh chiếm các quận Quế Lâm, Tượng Quận thành lập nước Nam Việt, tự xưng là Nam Việt Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung. Từ đó, nước Nam Việt của nhà Triệu chính thức ra đời.

Trong cuộc xâm lược đại quy mô của nhà Tần vào những năm 218-208 tr.CN, Triệu Đà đã từng có ý đồ thực hiện chính sách Hán hoá triệt để người Việt ở những vùng chúng đã chiếm. Y đã từng xin vua Tần Thuỷ Hoàng cho đưa 3 vạn đàn bà con gái không chồng xuống để “may vá áo quần” cho quân sĩ xây dựng cơ sở lâu dài. Y còn khuyến khích các tướng lĩnh, quan lại, quân lính người Hán lấy vợ người Việt, thúc đẩy quá trình Hán hoá ở đây.

Nước Nam Việt của Triệu Đà thực chất là nhà nước cát cứ của một tập đoàn tướng lĩnh, quan lại Hán tộc, không phải là nhà nước của người Việt. Nước Nam Việt của nhà Triệu gồm có 3 quận: Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận, là một nước mạnh, có đất đai rộng lớn (bao gồm vùng Quảng Đông, Quảng Tây- một phần Quý Châu ở phía Nam Trung Quốc), kinh tế trù phú, giao thông thuận lợi, lại nằm sát với nước Âu Lạc về phía Bắc nên có điều kiện xâm lược Âu Lạc. 
(theo:http://www.quehuong.org.vn/…/nr0505261019…/%20ns050526091345)
Cần chú ý rằng cuộc xâm lăng thành công bắt đầu bằng chiến tranh gián điệp của Triệu Đà đối với Âu Lạc đã mở đầu cho thời kỳ Bắc thuộc ngàn năm cay đắng của người Việt…
… quân Triệu đã nhiều lần tiến quân xâm lược Âu Lạc; có lần đã tiến xuống xâm phạm vùng Tiên Du (Bắc Ninh), Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh), sông Bình Giang (sông Đuống). Nhiều trận chiến đấu lớn, ác liệt đã diễn ra ở vùng Tiên Du và vùng phụ cận Cổ Loa. Nhưng bấy giờ, Âu Lạc là một quốc gia hùng mạnh, có Liên Châu Nỗ lợi hại thần kỳ, có thành Cổ Loa kiên cố, dưới sự lãnh đạo của An Dương Vương và các tướng, nội bộ đoàn kết, nhân dân ủng hộ và quyết tâm chiến đấu đã đánh bại quân Triệu, bảo vệ độc lập, tự chủ.

Sau nhiều lần xâm lược vũ trang thất bại, Triệu Đà thay đổi thủ đoạn xâm lược, thực hiện mưu kế xảo quyệt, xin giảng hoà với Âu Lạc, cầu hôn Công chúa Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thuỷ và xin cho Trọng Thuỷ được ở rể, để có cơ hội điều tra tình hình bố phòng và các bí mật quân sự của kinh thành Cổ Loa và nước Âu Lạc (mà chủ yếu là bí mật Liên Châu Nỗ.) Sống trên đất Cổ Loa, Trọng Thuỷ đã dùng tiền của mua chuộc các lạc hầu, lạc tướng, li gián nội bộ chính quyền Âu Lạc nhằm làm suy yếu khối đoàn kết, giảm ý chí chiến đấu và tinh thần cảnh giác của An Dương Vương.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Trọng Thuỷ xin An Dương Vương cho về thăm nhà, nhằm báo cáo kết quả do thám. Nắm chắc tình hình, Triệu Đà liền tổ chức cuộc tấn công xâm lược Âu Lạc, bất ngờ đánh thẳng vào Kinh đô Cổ Loa. An Dương Vương mất cảnh giác, bị động đối phó trong lúc nội bộ đã bị li gián. Cuộc kháng chiến thất bại nhanh chóng.
Năm 179 tr.CN, người Việt rơi vào ách đô hộ của nhà Triệu; mở đầu một thời kỳ đen tối, đầy đau thương và uất hận trong lịch sử nước ta, thường được gọi là thời Bắc thuộc, kéo dài từ 179 tr.CN đến năm 905
Cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ thắng lợi, lật đổ nền đô hộ của đế chế Đường, giành lại quyền độc lập, tự chủ của nhân dân ta, thời Bắc thuộc mới chấm dứt hoàn toàn.

Vũ Kim 
06 / 6 / 2015

LƯỢC SỬ CỔ ĐẠI VIỆT NAM – Phần 4

Phần IV : NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN

Sau thất bại của An Dương Vương (179 TCN), nhân dân Âu Lạc bị mất nước và bị chìm đắm trong đêm trường nô lệ vì bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Triệu Đà dùng mọi cách để xóa bỏ văn hóa Việt, Hán hóa mọi phong tục tập quán và nhân chủng Việt, nhưng người Việt đã rất cảnh giác và quật cường, lần lượt vượt qua các mưu đồ ấy.

Theo Tiền Hán thư, số đồ cống của Triệu Đà gửi dâng Hán Vũ Đế gồm có: một đôi ngọc bích trắng 1.000 con chim thuý (chim bói cá lông đẹp), 10 sừng tê 500 viên ngọc bối tía, một lọ quế đố (cà cuống), 40 đôi chim thuý sống, hai đôi chim công. . . Các đồ cống đó là do nhà Triệu vơ vét được ở Âu Lạc. Ngoài ra, dân Âu Lạc còn phải cung đốn lương thực cho bọn quan lại và binh lính nhà Triệu đóng trên lãnh thổ Âu Lạc và tham gia sửa đắp thành luỹ, xây dựng nhà cửa cho bọn quan lại đô hộ ở các trung tâm cai trị. Sự áp bức, bóc lột đó càng thúc đẩy chiến tranh khởi nghĩa giành quyền tự chủ của người Việt.

1/. Khởi nghĩa Tây Vu Vương (năm 111 TCN) :
Đây là cuộc nổi dậy đầu tiên của nhân dân ta chống Bắc thuộc mà sử cũ còn ghi lại. Đó là cuộc khởi nghĩa của một bộ phận người Âu Lạc, dưới quyền lãnh đạo của một dòng họ quý tộc Âu Lạc nhằm khôi phục lại quyền độc lập cho đất nước.

Bấy giờ, quân Hán đánh chiếm Phiên Nhung, hạ đô thành Nam Việt (Quảng châu), nội bộ Nam Việt bị phân hoá chia rẽ, bọn quan lại Nam Việt nhiều người đầu hàng nhà Hán. Chớp thời cơ đó, Tây Vu Vương (thủ lĩnh Tây Vu – Cổ Loa) đã thống suất dân chúng nổi dậy khởi nghĩa chống bọn sứ giả nhà Triệu. Cuộc khởi nghĩa tuy bị thất bại, Tây Vu Vương bị giết, nhưng nó đã mở ra một trang sử mới về tinh thần chống đô hộ của nhân dân ta.

2/. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 – 43) :
Từ khi nhà Hán đặt ách thống trị lên miền đất Âu Lạc, mức độ bóc lột và đồng hoá của bè lũ quan lại ngoại bang càng trở lên khốc liệt. Phong trào chống đô hộ của nhân dân ta trong buổi đầu công nguyên đã nổi dậy mà đỉnh cao nhất, chói lọi ngàn thu là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở đất Lĩnh Nam.

Cuộc nổi dậy oanh liệt ấy là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử thế giới cổ đại, nó như một tia lửa nhen lên tinh thần yêu nước Việt Nam, tinh thần vùng lên khởi nghĩa, coi độc lập dân tộc là cái quý giá nhất: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và sáu mươi lăm thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng. . . “ (Lê Văn Hưu).

Hai Bà Trưng cùng quân đội của mình đã phải tiến hành cuộc kháng chiến chống lại cuộc tiến công xâm lược tàn bạo của nhà Đông Hán trong suốt ba năm liền cho đến khi thất bại, hi sinh trên dòng sông Hát.

3/. Các cuộc khởi nghĩa tiếp nối :
Hết thế kỷ này sang thế kỷ khác, phong trào khởi nghĩa giành độc lập tự chủ của nhân dân ta diễn ra sôi sục, mãnh liệt với hàng chục cuộc khởi nghĩa lớn, nhỏ bùng nổ trên khắp các địa phương. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Chu Đạt ở các quận Cửu Chân và Nhật Nam những năm 157-160; của Lương Long ở nhiều quận, huyện từ Giao Chỉ cho tới Nhật Nam những năm 178- 181 ; của Bà Triệu ở Cửu Chân rồi lan rộng ra Giao Chỉ năm 248, khiến “Cả Giao châu đều chấn động”; khởi nghĩa của Lý Trường Nhân, Lý Thúc Hiến với việc giành lại được quyền tự chủ trong một thời gian (468-485).

Bước sang thế kỷ VI, phong trào giải phóng của nhân dân ta chuyển lên giai đoạn phát triển mới mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa thành công dưới sự lãnh đạo của Lý Bí (542-543) đưa đến việc thành lập nhà nước Vạn Xuân (544). Nhà nước Vạn Xuân vừa được thiết lập, chỉ được hưởng thái bình trong hơn một năm thì đã bị quân Lương tiến công xâm lược. Nhân dân Vạn Xuân dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế và Triệu Quang Phục đã anh dũng tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ giữ nước. Trải qua sáu năm kháng chiến, quân, dân Vạn Xuân chiến đấu anh dũng, kiên cường và giành được thắng lợi.

Từ thế kỷ VII, dưới ách cai trị bạo ngược của phong kiến nhà Tuỳ, rồi sau đó là của bọn phong kiến nhà Đường, các tầng lớp nhân dân, thế hệ nọ nối tiếp thế hệ kia, liên tục vùng lên đánh giặc. Cuộc khởi nghĩa này bị dìm trong máu lửa thì cuộc khởi nghĩa khác lại dâng lên.

Điều đáng lưu ý nhất là các cuộc nổi dậy đó chủ yếu không phải là nổi dậy của dân cày chống bọn điền chủ vì sưu cao thuế nặng, mà chủ yếu là nổi dậy của dân tộc Việt Nam chống đô hộ, giành độc lập tự chủ.

Ách đô hộ nhà Đường thường bị rung chuyển bởi những đòn công phá của phong trào cứu nước của nhân dân ta, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến năm 687, của Mai Thúc Loan năm 722, của Phùng Hưng những năm 766-779 và của Dương Thanh những năm 819-820. Trong số những cuộc nổi dậy mạnh mẽ đó cũng có những cuộc khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh giải phóng, như khởi nghĩa Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế).

Từ căn cứ Vạn An (Nghệ An), nghĩa quân Mai Thúc Loan đã liên kết với nhiều lực lượng chống nhà Đường, tiến ra bắc, tiến công phủ thành Tống Bình. Bè lũ đô hộ Quang Sở Khách, trước khí thế ngút trời của cuộc chiến tranh giải phóng của người Việt đã bỏ thành, chạy tháo thân về nước.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa không duy trì được lâu bởi ngay sau đó vua Đường đã cử danh tướng Dương Tư Húc dẫn 10 vạn quân sang đàn áp. Tuy vậy, cuộc khởi nghĩa với hình thức đấu tranh mạnh mẽ, rộng lớn đó đã cổ vũ nhân dân ta tiếp tục đứng lên đánh đuổi quân xâm lược.

4/. Khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ (905 – 908)
Đầu thế kỷ X, xuất hiện một hình thức khởi nghĩa mới của Khúc Thừa Dụ. Bấy giờ, triều đình nhà Đường ở Trường An và chính quyền đô hộ ở miền đất nước ta suy yếu; cuộc đấu tranh đòi độc lập của nhân dân ta lan rộng và dâng cao, bọn quan lại đô hộ bất lực. Khúc Thừa Dụ, hào trưởng có uy tín ở Hồng châu nhân thời thế, tổ chức quân sĩ, thu phục lòng người và khi thời cơ đến đã lãnh đạo nhân dân đứng lên chống bọn đô hộ, giành được chính quyền rồi tự xưng là tiết độ sứ.

Nhà Đường buộc phải chấp thuận sự việc đã rồi, công nhận Khúc Thừa Dụ là Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, đại diện của triều đình Trường An tại An Nam. Về danh nghĩa thì như vậy, nhưng thực chất họ Khúc đã xây dựng một chính quyền tự chủ. Tuy chính quyền vẫn còn mang danh hiệu của nhà Đường, nhưng về thực chất, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ, về cơ bản kết thúc ách thống trị hơn 1.000 năm của phong kiến phương Bắc. Lịch sử ghi nhận công lao của ông như là người đầu tiên đặt cơ sở lấy lại nền độc lập dân tộc

Cánh ứng xử của họ Khúc quả là độc đáo mở đầu cho một truyền thống khôn khéo, mềm mỏng trong thế ứng xử đối ngoại với phong kiến phương Bắc, nhằm đạt mục đích là giành và giữ nền độc lập dân tộc. Ở cạnh kề một nước lớn, từ sớm tổ tiên ta đã tỏ ra biết ứng xử linh hoạt để tồn tại và phát triển. Nhún nhường không phải lúc nào cũng biểu hiện yếu kém. Nhân nhượng để tránh tổn thất vô ích mà lại đạt mục tiêu. Độc lập tự chủ là mục tiêu lớn nhất của cả dân tộc ta thời đó.

Chính quyền tự chủ của họ Khúc được xây dựng năm 905 và tồn tại trong 26 năm thì các năm 931 và 938, nhà Nam Hán liên tục hai lần đưa quân xâm lược.

5/. Triều đại Ngô Quyền (939 – 944) :
Ngô Quyền (898 – 944), còn được biết đến với tên gọi Tiền Ngô Vương, là vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. Năm 938, ông là người lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng hiển hách, chính thức kết thúc hơn một thiên niên kỉ Bắc thuộc, mở ra một thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam. Sau chiến thắng này, ông lên ngôi vua, trị vì từ năm 939 đến năm 944.

6/. Nhà Đinh (968 – 979) :
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, Đại Việt sử ký toàn thư chép sự kiện: “Bầy tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế” và “Vua mở nước, lập đô (tại Hoa Lư), đổi xưng Hoàng đế”. Đinh Tiên Hoàng là người xưng hoàng đế đầu tiên ở Việt Nam.
Nhận xét về Đinh Tiên Hoàng đế, sử gia Lê Văn Hưu cho rằng có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà sinh bậc thánh triết, Lê Tung cho rằng vua chính thống của nước Việt ta, thực bắt đầu từ đấy.

7/. NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN
Trong cái ngạo thế hào hùng của đất Việt giờ đây đã hùng cứ một phương, sánh ngang vai cùng kẻ địch truyền đời phương Bắc, nhân dân Việt đã hào hứng dựng chùa NHẤT TRỤ với nghĩa NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN (một cột chống trời / chỉ thiên quốc – kẻ đại địch phương Bắc) tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình ngày nay). Ngôi chùa Nhất Trụ mà con gái vua Đinh Tiên Hoàng tu hành, có một cây cột đá cao, tám cạnh, khắc bài kinh Lăng Nghiêm, đề niên hiệu thời Lê Hoàn (981–1005)

Kiến trúc chùa một cột này là hình thái kiến trúc thuần Việt hết sức độc đáo, chưa từng có bất cứ đâu trên đất Trung Hoa, nêu rõ cái khí thế ngạo nghễ của một dân tộc sẵn sàng đương đầu, không e sợ bất cứ thế lực ngoại bang nào xâm lấn, một bản sắc đủ sức trường tồn, không bị đồng hóa và không lẫn vào văn hóa Trung Hoa. Điều đó được minh chứng trong lịch sử nghìn năm kéo dài đến ngày nay.

Vũ Kim. 07 / 6 / 2015
(có tham khảo vnmilitaryhistory, Wikipedia và vietnam.vnanet)
(Xem tiếp : PHẦN V : Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại).

VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM Ở NAM BỘ VIỆT NAM

Cách đây vài hôm, nói chuyện khoa học với vài bạn (nhỏ tuổi nhưng cũng không còn quá trẻ) có đề cập đến Vương Quốc cổ Phù Nam, từng là tồn tại rực rỡ ở Nam bộ Việt Nam. Tuy nhiên các bạn trẻ đều ngạc nhiên, nhiều người còn cho biết là chưa từng được nghe, hay học hỏi gì về Phù Nam cả.
—–*—–*—–*—–
VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM (tiếng Khmer: Phnom) là một quốc gia cổ trong lịch sử Đông Nam Á, xuất hiện khoảng đầu Công Nguyên, ở khu vực hạ lưu và châu thổ sông Mê Kông. Trong thời kỳ hưng thịnh, vương quốc Phù Nam, về phía Đông kiểm soát cả vùng đất phía Nam Trung Bộ Việt Nam, về phía Tây đến Thung lũng sông Mê Nam (Thái Lan), về phía Nam đến phần phía Bắc bán đảo Mã Lai.
Vương Quốc Phù Nam tồn tại cho đếnsau năm 627 thì bị sáp nhập vào lãnh thổ của Chân Lạp (*). Mãi đến thế kỷ XVII – XVIII, phần đất cũ là trung tâm của Phù Nam, tách khỏi Chân Lạp để trở thành Nam Bộ Việt Nam ngày nay (**). Phần đất phiên thuộc kém quan trọng hơn trở thành Vương Quốc Khmer (***) hay là Kampuchia ngày nay.
————————
Chú dẫn :
(*) Chân Lạp (tiếng Khmer: Chên-la) là nhà nước đầu tiên của người Khmer tồn tại trong giai đoạn từ khoảng năm 550 tới năm 802 trên phần phía nam của bán đảo Đông Dương gồm cả Campuchia và một số tỉnh phía Nam của Việt Nam hiện đại. Các vương quốc láng giềng xung quanh Chân Lạp vào thời kỳ ban đầu là Chăm Pa ở phía đông, Phù Nam ở phía nam và Dvaravati (thuộc Thái Lan ngày nay) phía tây bắc.
Triều đại các vị vua của Chân Lạp theo truyền thuyết có nguồn gốc từ nhân vật thần thoại Campu, lấy nàng Naga (con gái thần nước, biến từ rắn thành thiếu nữ). Từ “campu” cũng bắt nguồn cho tên gọi của Campuchia sau này.
Chân Lạp ban đầu là một nhà nước chư hầu của Phù Nam (cho tới năm 550), trong vòng 60 năm sau đó nhà nước này đã giành được độc lập và dần dần lấn lướt Phù Nam. Đến thế kỷ 6 thì họ đã xâm chiếm được miền bắc của Phù Nam. Cuối cùng, trong thế kỷ 7 (khoảng giai đoạn 612-628), nhà nước này đã xâm chiếm toàn bộ Phù Nam, chiếm toàn bộ dân cư của nhà nước đó nhưng lại bị văn hóa bản địa mạnh mẽ của Phù Nam đồng hóa. Năm 613, Ishanapura trở thành kinh đô đầu tiên của Chân Lạp.
(**) Nam Bộ Việt Nam : Hành trình Nam tiến kéo dài 700 năm, mở rộng diện tích lãnh thổ nhỏ bé ở Bắc Bộ Việt Nam so với ban đầu độc lập tăng lên 3 lần, từ thế kỷ 11 đến giữa thế kỷ 18 lãnh thổ Việt Nam về cơ bản được hình thành và tồn tại như hiện nay, trên cơ sở vùng lãnh thổ mà gọi là Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ của một đất nước không – chia – cắt.
(***) Vương Quốc Khmer, tách ra từ Vương quốc Chân Lạp, đã từng cai trị và có phần đất phiên thuộc mà ngày nay thuộc một phần lãnh thổ của các quốc gia: Lào, Thái Lan và miền nam Việt Nam (diện tích lên đến 1 triệu km², gấp 3 lần Việt Nam hiện nay) đóng chủ yếu trên phần lãnh thổ hiện nay thuộc Campuchia.

THUYẾT TIẾN HÓA hiện đại và THUYẾT DARWIN

Người ta thường đánh đồng giữa THUYẾT TIẾN HÓA hiện đại và THUYẾT DARWIN, dù hai thứ đó không phải là một. Sự ngộ nhận này đưa đến những phán đoán cho rằng thuyết Darwin là sai, dựa trên những “bất ngờ” khảo cổ cho thấy con người đã có từ trước mốc thời gian hơn 200.000 năm xuất hiện loài người hiện tại, đại biểu là Lucy, người mẹ duy nhất của nhân loại hiện nay (di chỉ khảo cổ tìm thấy vào năm 1974 gần làng Hadar trong thung lũng Awash phía bắc Ethiopia, Đông Phi).

Thực ra, theo thuyết tiến hóa hiện đại thì nhân loại đã xuất hiện trên trái đất hơn 2 tỷ năm. Họ phát triển nhanh đến một mức độ văn minh thì bị tận diệt do “một nguyên nhân nào đó” rồi tái phát triển từ con số không, đến khi một chủng loài người mới xuất hiện. Theo thuyết tiến hóa hiện đại thì những chủng loài viễn cổ này đã từ tiến đến cấp độ văn minh sử dụng được năng lượng nguyên tử (thậm chí các siêu năng lượng khác như năng lượng phản hạt, năng lượng chân không lượng tử, thậm chí năng lượng tối …), rồi phát động chiến tranh “không kiểm soát được” và tự phá hoại sinh quyển, đưa đến diệt vong toàn cầu.

Và đã có đến 6 lần nhân loại phát triển rồi diệt vong như vậy, hình dạng của nhân loại trong các thời kỳ có sự tương đồng nhưng cũng dị biệt lớn về cấu trúc nhân thể học. Trái đất trống trơn không một bóng người trước khi xuất hiện Lucy thần thánh, Mẹ vĩ đại của nhân loại. Nói khác đi, chúng ta là nhân loại phát triển lên từ khời phát nhân giới của lần thứ 7, với đại diện Lucy thoát sinh từ vượn người. Sáu lần phát sinh – phát triển và diệt vong nhân giới trước đó do nguyên nhân thiên tai toàn cầu và cả tự diệt vong do chiến tranh nguyên tử, chiến tranh siêu năng lượng. Theo một số phát biểu chưa được kiểm chứng mang dáng dấp “thuyết âm mưu” thì đã có một (vài) thời kỳ phát triển đến kỹ thuật – khoa học vũ trụ liên hành tinh – liên thiên hà, một số nhóm đã lên tàu vũ trụ đi đến các vì sao xa xăm sinh sống khi chiến tranh diệt vong toàn cầu sắp nổ ra, và bây giờ họ trở lại thăm “chốn cũ” và được gọi là “người ngoài hành tinh” (Alliens). Một số chủng tử đi vào vũ trụ song song (rất gần chúng ta trong gang tấc nhưng chúng ta chưa đủ khoa học kỹ thuật để đến chỗ của họ) và con cháu hàng triệu năm sau của họ quay về xem “đồng loại kém tiến hóa” là chúng ta. với hình ảnh người ngoài hành tinh.

Nói như vậy, có nghĩa là thuyết Darwin (và do đó, thuyết Tiến Hóa) không hề sai, vì Darwin chỉ nói đến nhân loại của lần thoát sinh thứ 7. Do đó cần có bằng chứng rằng nhân loại hiện đại phát sinh – phát triển từ một cặp bố mẹ duy nhất.
Bài dưới đây cung cấp cho chúng ta chứng cứ cần thiết đó từ nghiên cứu ADN ti thể của Stoeckle và Thaler ở Đại học Rockefeller và Đại học Basel.

KIẾN GIẢI BỔ SUNG VỀ TIẾN TRÌNH ĐA GIỚI CỦA VŨ TRỤ

Hoàng Sa: 

Bây giờ con mới hiểu rằng trước Big Bang thì không gian và thời gian không hề tồn tại, chỉ có một khối lượng và năng lượng khổng lồ – cực hạn, nhiệt độ 10^32 độ K. Tất cả là điều kiện cho một vụ nổ khủng khiếp khai sinh vũ trụ, không gian xuất hiện và giãn nở, vật chất tung ra mọi phía (đẳng hướng). Không gian đó (đi kèm vật chất) phát sinh và giãn nở không ngừng 13,8 tỷ năm cho đến bây giờ (và vẫn đang giãn nở với gia tốc vũ trụ).

Wambua Dominic:

Nói rõ ra rằng, vấn đề cốt lõi cần phải hiểu là TRƯỚC BIGBANG KHÔNG CÓ CẢ KHÔNG GIAN LẪN THỜI GIAN. Không có gì hết. 

Thế rồi vũ trụ được sinh ra từ cái “không có gì hết” đó. Trước khi có sự tham gia của Cơ Học Lượng Tử thì thuyết Big Bang vấp phải những nan đề:

1/. Big Bang dựng ra mô hình vũ trụ được hình thành từ con số 0, do đó đi ngược định luật thứ nhất của nhiệt động học. Định luật này phát biểu rằng, vật chất, cũng như năng lượng, không tự nhiên sinh ra và cũng không tự nhiên mất đi. 

Tuy nhiên, những phân tích Lượng Tử cho biết phản đề này là không có căn cứ, vì 2 lý do. 

– Thứ nhất, Big Bang không giải thích về việc vũ trụ được tạo ra như thế nào, mà chỉ nói về sự phát triển của vũ trụ. 

– Thứ hai, khi các định luật khoa học cơ bản nhất lần lượt đổ vỡ dưới sự hình thành và phát triển của vũ trụ, không có gì chắc chắn rằng định luật bảo toàn vật chất và năng lượng đúng với mọi thời điểm của tiến trình vũ trụ đa giới. 

2/. Thuyết Big Bang ngược lại định luật Entropy. Định luật này phát biểu rằng theo thời gian, vật chất sẽ càng trở nên hỗn độn hơn. Nhưng nếu tổng luận lại thì có thể thấy, tại thời điểm ban đầu, vũ trụ là hoàn toàn đồng nhất và đẳng hướng, và cho đến nay, vũ trụ là một tập hợp hỗn thể của vô vàn những vì sao, những thiên hà…. và điều này cho thấy thuyết Big Bang vẫn tuân thủ định luật Entropy.

3/. Sự mở rộng quá nhanh của vũ trụ trong giây đầu tiên đã phá vỡ giới hạn vận tốc ánh sáng. Khoa học hiện đại cho biết phản đề này là sai:

– Thứ nhất, vào thời điểm đầu tiên của Big Bang, do chưa có hấp dẫn nên thuyết tương đối hoàn toàn không được áp dụng, và do đó, chẳng có vấn đề gì với việc di chuyển nhanh hơn vận tốc ánh sáng. 

– Thứ hai, không gian là hoàn toàn nằm ngoài mọi tương tác trọng lực, do đó không gian tự bản thân nó hoàn toàn có thể mở rộng nhanh hơn vận tốc ánh sáng.

Tóm lại, Big Bang không dễ hiểu, nhưng hiểu rồi thì nó cũng … không quá khó, đúng không con, Hoàng Sa ? Tuy nhiên phải hiểu rằng những nan đề (và cả các phản nan đề) này đều … chưa đúng lắm (xem phần 2),

Chong tham tang ham: 

Bác ơi sau khi đọc phần 1 &2 về Tiến trình đa giới của vũ trụ, con có 2 câu hỏi muốn bác chỉ giúp con:

1. Ở phần d nói rằng: Sự giãn nở về bản chất là do không gian giãn nở chứ k phải là vật chất và năng lượng đó nở ra… Nếu như vậy thì bản chất của sự sinh diệt của các sự vật trên vũ trụ cũng k phải do tự nó “già” đi mà là do không gian vũ trụ giãn nở và “phá hủy” nó phải k bác?

2. Phần này con mạo muội xin hỏi vì thắc mắc đã lâu. Nhưng con e rằng vốn kiến thức và từ ngữ của con k đủ để diễn đạt, có gì bác bỏ qua cho con nhé. Gần đây con có tìm hiểu về đạo phật và có nghe  (chỉ nghe chứ con k đủ khả năng kiểm chứng) rằng Phật tổ bằng Phật nhãn đã nhìn được ( hoặc cảm nhận được) rằng có những thế giới khác và rất nhiều điều khoa học hiện đại càng phát triển càng thấy chính xác dù đã cách đây hàng nghìn năm. Vậy quả thật đạo Phật là như vậy không bác chỉ thêm cho con nhé.

Wambua Dominic:

Thầy trả lời hai câu hỏi của con theo kiểu “giải nan đề” của Khoa Học Lượng Tử.

1/. Sự giãn nở của Singularity trải rộng không gian và thời gian đẳng hướng, vật chất theo đó bùng nổ trong không gian vũ trụ. Các luật căn bản xuất hiện, giới hạn qui mô của mọi tồn tại. Nhìn giản hình, ta thấy rằng tiến trình đa giới của vũ trụ là quá trình tuần hoàn (nói theo một cách khác, Luân Hồi là Luật Chi Phối của vũ trụ). Luật Vô Thường (Thành – Trụ – Hoại – Không) mà nhà Phật phát biểu cách nay hàng nghìn năm cho thấy kiến văn vĩ đại của họ. Nói khác đi, Thành – Trụ – Hoại – Không là Luật Lớn chi phối mọi tồn tại sau Big Bang. Con người “nhỏ xíu trong trời đất” chắc chắn phải tuân theo Luật Lớn này.

2/. Trong 11.000 kinh điển của Phật gia, vũ trụ luận được phát biểu với tần suất không lớn nhưng rất quan trọng. Phát biểu “vũ trụ trăm chiều” và “Ba Nghìn Đại Thiên Thế Giới” là những thứ mà các nhà Khoa Học Lượng Tử hiện đại phải kinh hoàng, khi mà kết quả các nghiên cứu với tài lực và nỗ lực khổng lồ cho thấy chúng ta đang tiến dần đến điều đó.

Trong nan đề này, con phải chú ý rằng Đạo và Tôn Giáo là khác về bản chất:

– Đạo là một hệ thống phương thức tư duy và hành động để nắm bắt và hội nhập với vũ trụ, dựa trên một hệ thống Luật căn bản. Vì vậy Đạo gồm 5 thành tố: Vũ Trụ Luận + Nhân Sinh Luận + Tương tác Luận + Cấu Trúc Luận và Phương Pháp Luận.

– Tôn Giáo là một tổ chức xã hội, dựa trên kiến giải của một Đạo mà lập ra Kinh + Luật + Luận của mình, và ràng buộc giáo chúng đi theo Kinh – Luật – Luận đó.

Vì vậy Đạo là vô biên, là tuyệt đối tự do, trong khi Tôn Giáo là ràng buộc. Nói một cách khác thì Tôn Giáo không có Đạo, là Vô Đạo và là Tà Đạo.

Nguồn: Tổng hợp các comment thảo luận về TIẾN TRÌNH ĐA GIỚI CỦA VŨ TRỤ, tháng 12/2018.

KIẾN GIẢI BỔ SUNG VỀ VŨ TRỤ ĐA CHIỀU- KHÔNG THỜI GIAN ĐA CHIỀU

Peal Vu:

Con đọc cho Hiếu tiêu đề, nó bảo có 12 chiều ko thời gian và vũ trụ mình là thứ 7, nó đọc ở đâu lâu rồi chưa nhớ ra Thầy ạ. Đọc xong bài ông viết thấy cậu đang “lục trí nhớ” 🙂

Wambua Dominic:

Cháu Hiếu đọc (và ham đọc) là tốt, nhưng do hạn chế tư duy phân tích – tổng hợp dữ liệu của lứa tuổi nên hiểu sai lạc khá nhiều thứ:

1/. Stephen Hawking phát triển ra một mô hình vũ trụ từ những công thức toán học, dựa trên nền tảng của thuyết dây (String) và trình bày thành thuyết M – Thuyết M được coi là tổng hợp của thuyết lượng tử và thuyết tương đối. Vì thế, thuyết M của Hawking được gọi là “thuyết lượng tử hấp dẫn”. Hawking mong thuyết này có thể lí giải chính xác về bản chất của vũ trụ.

2/. Dựa trên “thuyết lượng tử hấp dẫn” đó, Hawking đã tính ra vũ trụ của chúng ta được hình thành từ 11 chiều không gian. Nếu xem thời gian cũng là một chiều của vũ trụ thì vũ trụ được xem là có 12 chiều. Nhưng chỉ có ba chiều không gian và một chiều thời gian đã mở, còn các chiều kia bị cuộn lại từ sau vụ nổ lớn.

3/. Khoa học hiện đại đang loay hoay tìm cách thực nghiệm chiều không gian thứ tư (và nhiều chiều khác đã được chứng minh), nhưng rất nhiều khó khăn trở ngại vì kỹ thuật của nhân loại còn rất “chuối” với vấn đề xương xẩu này. Lấy đâu ra “vũ trụ mình là thứ 7” ? mà lại còn đứng trên đỉnh của “Top 7” đó mới …. kinh.

4/. Thuyết siêu dây (superstring) và Vật lý siêu dây cung cấp nền tảng lý luận, toán học và thực nghiệm để cho thấy vũ trụ thực chất có nhiều, rất nhiều chiều chứ không chỉ là 11 hay 12 gì đó. Một báo cáo khoa học tháng 8/2018 của Viện MIT cho thấy có hàng trăm, hàng nghìn vũ trụ. Do đó đừng tưởng có chừng đó (11 hay 12) chiều là có bấy nhiêu vũ trụ.

5/. Dây là khái niệm vật lý lượng tử cơ bản chỉ vật thể một chiều mà các kiểu dao động khác nhau của nó hình thành các hạt cơ bản với các tính chất khác nhau. Mỗi hạt không phải như những phần tử không thể phân chia được, không có cấu trúc nội tại mà được hình dung như một vòng dây một chiều đóng kín. Siêu dây không phủ định dây mà cung cấp thêm các thể tồn tại khác của dây, với vũ trụ màng và vũ trụ bong bóng. Hawking không sai nhưng không đầy đủ vì chưa có điều kiện cập nhật tri thức Lượng Tử học cao nhất (vì Hawking … chết mất tiêu rồi còn đâu).

6/. Tài liệu ở Việt Nam mà cháu đọc được chỉ là một phần vừa rất nhỏ, vừa rất lạc hậu của tri kiến hiện đại. Hướng dẫn cháu đọc nhưng đừng quên là với tri thức hiện đại thì mình …. chẳng có gì cả. Đặc biệt, tri thức Khoa học là thành quả của những tính toàn, phân tích và thực nghiệm chứ không phải chỉ là phán đoán hay niềm tin vô căn cứ.

 Những lời Ông viết ở đây thì có thể một thời gian ngắn nữa nó đã lạc hậu rồi.

Peal Vu: 

Thầy ơi, chiều thứ 4 là tp cốt lõi. Từ chiều thứ 5 trở đi khó hình dung rồi. Thầy cho con hỏi tại sao định ra được các chiều ko gian đó, chúng khác nhau hẳn có qui luật khác nhau và làm sao biết 8 chiều “đang” co thành hằng điểm ạ?

Wambua Dominic:

Con nên chiêm nghiệm kỹ các vấn đề sau đây, Pearl Vu:

1/. Vũ trụ không có “qui luật” mà chỉ có các LUẬT. Trong đó Luật được định nghĩa: “Luật là tiến trình trong không gian và thời gian, tất yếu và không thể đảo ngược”. Còn “qui luật” là từ được “tối tạo” từ tư duy hỗ lốn của các nhà xã hội học “giả tưởng”, cho rằng nó (qui luật) là kết quả của tổng quát hóa + khái quát hóa + qui nạp từ một nhóm hiện tượng (vì vậy mà khi áp dụng qui luật vào kinh tế – xã hội thì nhân dân ôm đầu máu hàng thập kỷ).

2/. Mọi chiều đều có giá trị như nhau trong tổ hợp đa chiều để tạo ra một vũ trụ. Nói chiều không gian thứ tư (của vũ trụ chúng ta đang sống) là cốt lõi thì đó là phán đoán sai lầm, dẫn đến hàng loạt sai lầm khoa học khác.

3/. Các chiều không gian được tìm ra bằng Lý thuyết Dây. Thuật toán hiệu quả là lập Ten-xơ Metric dựa trên các dữ liệu thực nghiệm và quan trắc lượng tử, từ đó tìm ra các nghiệm đáp ứng với các dây vũ trụ xuất phát từ hằng điểm lượng tử. Trong đó các nghiệm đa phức của Ten- xơ Metric dẫn đến 3 nghiệm có giá trị thực (tương ứng với 3 chiều không gian Ox; Oy; Oz), và hằng trăm nghiệm là số siêu phức tương ứng với vô số chiều không gian khác (kể cả chiều thời gian). Một nhóm trong số đó có 8 nghiệm phức tương ứng với 8 chiều không gian không thể trực nhận vì đang “co” lại. Riêng một nghiệm vừa có giá trị thực vừa có giá trị phức (a + bi), trong đó phần phức của nó chính là phần phức của số siêu phức của chiều thời gian. Đó chính là chiều không gian thứ 4 vậy.

Toán học Ten-xơ Metric và giải Ten-xơ Metric còn là thứ xa lạ với trình độ phổ thông của Việt Nam.

Số siêu phức (Glosbe): Trong toán học, số siêu phức là khái niệm mở rộng của số phức từ dạng tổ hợp tuyến tính 2 chiều z = a + b.i với các hệ số thực a, b của hai đơn vị cơ sở 1 và i sang không gian vectơ n chiều với n hệ số thực x0, x1, x2,…, xn-1, của n đơn vị cơ sở 1, e1, e2, e3,…, en-1:

z = x0.1 + x1.e1 + x2.e2 +… + xn-1.en-1

Hoàng Sa:

– Phép cộng và trừ số siêu phức được định nghĩa theo tọa độ tương tự như phép cộng và trừ vectơ trong không gian n chiều.

– Phép nhân hai số siêu phức: xác định giá trị của (n-1)2 tích ei.ej, còn các tích của ei với 1 được đặt một cách tự nhiên (1.ei = ei.1 = ei)

* Tính chất:  Phép nhân số siêu phức không có tính giao hoán, do đó, các tập hợp số siêu phức không phải là trường số.

* Phép nhân số siêu phức bộ bốn (Quaternion) có tính kết hợp nhưng không giao hoán và không có ước của không. Định lý Frobenius (en:Frobenius theorem (real division algebras)) khẳng định rằng chỉ có trường số thực, trường số phức và vành số siêu phức bộ bốn mới có tính kết hợp trong phép nhân vô hướng với một số thực mà thôi.

Agrinet Vietnam: 

Chiều thứ 5 là chiều thể hiện sự tương quan giữa linh hồn và con người hả anh Kim (Wambua)?

Wambua Dominic:

1/. Khoa học vũ trụ là khoa học thực nghiệm kết hợp với việc vận dụng các thành tựu khoa học tương quan trong đó có toán học. Do đó nó khác về bản chất với toán học, là bộ môn khoa học chỉ hoạt động thuần túy trên lý thuyết. Không gian vũ trụ là không gian vật chất và năng lượng, vận động trong thời gian thực, vì vậy đem không gian toán học vào “nói chuyện vũ trụ” là sai về căn bản.

Gọi V là một không gian véctơ trên trường số phức C. Dạng tuyến tính một rưỡi trên không gian V là một ánh xạ thỏa mãn các điều kiện đối với mọi véctơ x, x’, y, y’ thuộc V và số phức alpha. Không gian Hermite và Không gian Unita là hai khái niệm trong đại số tuyến tính, diễn đạt tương quan tuyến tính “một rưỡi” đó, đã được minh chứng bằng thực nghiệm trong Cơ Học Lượng Tử..

2/. Linh hồn là khái niệm tâm lý – xã hội, không có định tính, định lượng và quan trắc khoa học nên “linh hồn” không được thừa nhận học thuật và cũng không được xem như là một tham số trong thực nghiệm khoa học. 

Tất nhiên là nó cũng không liên quan đến chiều không gian vũ trụ thứ 5.

Hy Khuyết:

Hic, sư phụ trả lời rất đúng kiểu cách … sư phụ. Tuyến tính “một rưỡi” mà anh giảng cho bọn em vào một đêm của 7 năm trước bây giờ mói hiểu là cái  khái niệm “thuần túy lý thuyết” (Không gian Hecmit và Không gian Unita) trong đại số tuyến tính đã được Cơ Học Lượng Tử dùng thực nghiệm để chúng minh rồi.

Vậy mà bọn chúng tôi thậm chí còn chưa nghe cái gì về nó … (Thạc Khỉ – Tiến … Khỉ cả đấy). Ôi ông Wambua Dominic ơi !!!

Hoang Sa:

Hàm Hermite không chỉ là hàm riêng của toán tử Schrodinger mà còn là hàm riêng của biến đổi Fourier. Ngoài dạng vật lý, đa thức Hermite còn có dạng xác suất, do đó thỏa mãn tính bất định của tồn tại vật chất trong Cơ Học Lượng Tử. Nói một cách khác, hàm Hermite biểu diễn tồn tại ánh xạ “một rưỡi” của thế giới vật chất THỤC (mà không phải là thế giới nhận thức). Nghĩa là không gian Hermite biểu diễn trạng thái “thực, chập chồng và bất định” của vật chất suôt từ vi mô đến vĩ mô, từ hằng điểm lượng tử đến biên địa của vũ trụ.

Nguồn: Tổng hợp các comment thảo luận về VŨ TRỤ ĐA CHIỀU – KHÔNG THỜi, tháng 12/2018.

VŨ TRỤ ĐA CHIỀU – KHÔNG THỜI GIAN ĐA CHIỀU (Phần 3)

Phần III : ĐA VŨ TRỤ

I/. Tóm tắt những tri kiến khoa học về tiến trình đa giới của vũ trụ:

– Ở giai đoạn tiền Big Bang thì chưa có không gian và thời gian, do đó cũng không có vũ trụ. Ở qui mô điểm lượng tử Bo thì mọi thước đo không gian – thời gian đều bằng không, mật độ, khối lượng và năng lượng là cực hạn, do đó tập hợp đủ mọi điều kiện cho vụ giãn nở phi thường được hình dung như một Vụ Nổ Lớn (Big Bang).

– Giãn nở bắt đầu, sau 1,2 x 10^-250 s thì hàng trăm chiều không gian và một chiều thời gian tỏa ra đẳng hướng, tạo ra khoảng không vũ trụ. Vũ trụ chính thức khai sinh.

– Gần như cùng lúc (sau 1 phần 10.000 tỷ giây), năng lượng cực hạn “bung” ra trong không gian lượng tử đó. Vũ trụ rất dày đặc và rất nóng, nhưng sau đó, do sự giãn nở rất nhanh, nên mật độ và nhiệt độ dần hạ xuống. 85% tổng năng lượng vũ trụ chuyển thành chân không lượng tử nén các chiều không gian lại, làm cho không gian vũ trụ co lần thứ nhất, từ hàng trăm chiều không gian co lại chỉ còn 11 chiều không gian, cộng với chiều thời gian đã mở sẵn trước đó. Chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ không – thời gian 12 chiều này.

Tiếp theo sự giãn nở này, không gian vũ trụ 12 chiều hình thành, khẳng định tồn tại và phát triển, các bức xạ mất dần năng lượng. Và chỉ trong một vài giây, vũ trụ được hình thành, trải dài đến vô tận chỉ từ một hằng điểm lượng tử duy nhất. vật chất dần được tạo thành, tỏa rộng ra trong không gian đó.

– Trong mảng vũ trụ mà sau này chứa chúng ta, Vũ trụ phát triển bằng cách phát tán vật chất đẳng hướng với tốc độ lớn hơn vận tốc ánh sáng, tương quan nhân quả hình thành, đảo lộn rồi lại xác lập nhiều lần trong pha “Vũ trụ lạm phát” này. Nhiệt độ và mật độ hạ xuống nhanh, 70% năng lượng còn lại tiếp tục chuyển vào chân không lượng tử, tiếp tục nén các chiều không gian làm cho không gian vũ trụ co lần thứ hai xuống chỉ còn 3 chiều không gian và 1 chiều thời gian như hiện nay. Các định luật và các lực vũ trụ cơ bản được xác lập.

– Có thể thấy rằng gần 95% năng lượng vũ trụ “khởi thủy” chuyển vào chân không lượng tử, và năng lượng của chân không lượng tử này đã “nén” hàng chục vũ trụ trong không gian vũ trụ hiện nay, hình thành ĐA VŨ TRỤ. Do các vũ trụ này là tổ hợp của các chiều không gian khác nhau (số chiều > 2) nên các vũ trụ này không nhận thức được nhau (nghĩa là vô hình đối với nhau).

– Đúng ra phải nhận thức rằng có 11 chiều không gian, vì thời gian là thành phần cốt lõi của Luật Lớn qui định tồn tại của vũ trụ (Luật Vô Thường), nó thấm đẫm trong mỗi chiều không gian, chi phối và quyết định mọi tồn tại. Hầu hết chúng ta đều bị thuyết phục một cách sâu sắc rằng ở một mức độ vô thức, một cái đồng hồ vũ trụ vĩ đại đang tích tắc mỗi giây trong không gian khổng lồ gọi là vũ trụ này. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ trước, Albert Einstein đã giải thích rằng thời gian thực tại có liên quan tới mỗi vật thể trong vũ trụ, và rằng thời gian là một “chủ thể” không tách biệt với không gian. Ngay cả các chuyên gia đồng bộ thời gian trên thế giới cũng biết rằng thế giới này được xử lý bởi một sự tích tắc được quy định một cách ngẫu nhiên, do đồng hồ hoàn toàn không có khả năng đo được thời gian.

Rõ ràng là, chỉ còn cách duy nhất là hãy chìm vào một “ảo tưởng tạm thời” của sự vô tận này, biết rằng có một không gian nơi mà quá khứ của chúng ta vẫn tồn tại và những gì chúng ta làm sẽ không hề thay đổi. Hoặc như chính Einstein nói: “Những người như chúng ta, những kẻ tin vào vật lý học, biết rằng sự phân biệt giữa quá khứ, hiện tại, và tương lai chỉ là một ảo tưởng cố chấp dai dẳng.”

– Trong (chỉ một) không gian vũ trụ hình thành từ Big Bang chứa hàng nghìn vũ trụ (đa vũ trụ), trong đó mỗi vũ trụ đều là tổ hợp của nhiều chiều khác nhau (vũ trụ đa chiều), có các định luật hằng hữu vũ trụ và các lực vũ trụ cơ bản riêng, giống hoặc không giống với các vũ trụ đa chiều khác. Trong đó có thế giới của chúng ta, là một vũ trụ 4 chiều, chứa trong đó 8 chiều không gian đang co lại thành hằng điểm.

II/. Các chiều không gian:

Chúng ta nghiên cứu 11 chiều không gian tồn tại sau lần không gian co lại lần thứ nhất.

1/. Chiều không gian thứ nhất, như mọi người đều biết, là chiều dài (còn gọi là trục Ox). Đối tượng 1 chiều được hình dung như một đường thẳng, chỉ tồn tại với một đặc tính duy nhất về độ dài. 

2/. Chiều không gian thứ hai – chiều rộng (trục Oy) bổ sung vào chiều thứ nhất Ox thì chúng ta sẽ có đối tượng 2 chiều (chẳng hạn như hình vuông).

3/. Chiều không gian thứ ba là chiều sâu (trục Oz). Các vật thể 3 chiều đều có diện tích và tiết diện. Chẳng hạn như một khối lập phương, có chiều dài, chiều rộng, chiều sâu và do vậy có thể tích.

Trong không thời gian 4 chiều thì chúng ta chỉ nhận thức được 3 chiều không gian Dài + Rộng + Cao cùng thẳng góc nhau tại gốc tọa độ O. Các chiều khác cùng thẳng góc nhau với 3 chiều nói trên tại trục tọa độ O nên không thể biểu đạt hình học được, vì chúng đã co lại thành hằng điểm, hoặc là nền của vũ trụ (chiều thời gian) nên đều là vô hình trong không – thời gian 4 chiều của chúng ta.

4/. Chiều không gian thứ tư : là chiều không gian song hành với trục thời gian, co thành hằng điểm nên là vô hình với chúng ta. Nó phản ảnh thời gian – chiều chi phối các thuộc tính của mọi vật chất tại một điểm thời gian bất kỳ (chẳng hạn như sự lão hóa của động vật và tính cũ, mới của đồ vật). Cùng với 3 chiều không gian trên, chiều thời gian là cần thiết để xác định sự tồn tại, vị trí của một thực thể trong vũ trụ.

Nếu có khả năng nhận thức được chiều thứ tư này, sẽ có khả năng nhận biết được mọi vận động của thế giới trong thời gian thực, từ khởi thủy Big Bang cho đến tận cùng vũ trụ trở về Bo.

Albert Einstein đồng nhất hóa chiều không gian thứ tư với thời gian.

5/.  Chiều không gian thứ năm: là chiều không gian co thành hằng điểm, phản ảnh ý niệm về thế giới song song. Nếu có thể nhìn thấu chiều thứ năm, chúng ta sẽ thấy một thế giới hơi khác biệt so với thế giới chúng ta đang sống. Thế giới ấy sẽ giúp chúng ta có cơ sở đánh giá sự giống và khác nhau giữa thế giới của chúng ta với những thế giới song song khác.

6/. Chiều không gian thứ sáu: là chiều không gian co thành hằng điểm, cho phép nhìn thấy một mặt phẳng của thế giới song song, nơi chúng ta có thể so sánh và xác định vị trí của tất cả các vũ trụ song song ra đời cùng vũ trụ của chúng ta, tức là từ vụ nổ lớn (Big Bang). Về lý thuyết, nếu nắm rõ chiều thứ năm và thứ sáu thì có thể xuyên không, tức là quay về quá khứ hoặc đi đến tương lai.

7/. Chiều không gian thứ bảy: là chiều không gian co thành hằng điểm, cho phép bước vào các thế giới xuất hiện với các điều kiện ban đầu khác vũ trụ của chúng ta, tức là không hình thành từ vụ nổ Big Bang.

8/. Chiều không gian thứ tám: là chiều không gian co thành hằng điểm, cho chúng ta thấy từng mặt phẳng của các vũ trụ song song trong chiều thứ bảy, mỗi vũ trụ đó lại hình thành với điều kiện ban đầu khác nhau, không ngừng phân nhánh và mở rộng đến vô tận.

9/. Chiều không gian thứ chín: là chiều không gian co thành hằng điểm, giúp trực nhận và so sánh tất cả các vũ trụ song song hình thành từ các điều kiện ban đầu khác nhau và nơi đó ngự trị các quy luật vật lý khác nhau.

10/. Chiều không gian thứ mười: là chiều không gian co thành hằng điểm, kết nối chúng ta với các vũ trụ đa chiều khác, có thể đi đến bất cứ vũ trụ đa chiều đồng đẳng nào trong chỉ một vài giây.

11/. Chiều không gian thứ mười một : là chiều không gian co thành hằng điểm, sẽ dẫn chúng ta đến một điểm ẩn chứa những điều nằm ngoài giới hạn tưởng tượng và tầm hiểu biết của con người.

—————

Xem tiếp phần IV : Đặc trưng của vũ trụ đa chiều và đa vũ trụ.

Xem lại phần II :CẤU TRÚC THẬT SỰ CỦA VŨ TRỤ

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 31/12/2018.

TIẾN TRÌNH ĐA GIỚI CỦA VŨ TRỤ (Phần 2)

Phần II : VŨ TRỤ ĐA GIỚI TUẦN HOÀN.

Xin nhắc lại, theo mô hình Big Bang thì khởi thủy của vũ trụ là không có gì hết, nghĩa là không có cả không gian và thời gian, chỉ có một khối lượng và tổng năng lượng cực hạn (các nhà vũ trụ học gọi nó là điểm Singularity) lớn đến nỗi bây giờ vẫn chưa thể đo đạc chính xác được.

1/. Khối lượng của vũ trụ:

Gần đây, thiên văn học phát hiện chớp sóng vô tuyến đến từ những nơi xa xôi, mang tên Fast Radio Bursts (FRB). Chúng chỉ kéo dài khoảng một miligiây và số chớp sóng được ghi nhận mới ở con số 16. Thông qua chớp sóng vô tuyến, có thể tính toán lượng vật chất mà chúng đi xuyên qua, từ đó tìm ra khối lượng của vũ trụ.

Vào ngày 18/4/2015, một chớp sóng được kính viễn vọng vô tuyến Parkes khẩu độ 64m ở Australia ghi lại. Trong vòng vài giờ sau khi tin tức lan truyền, một số kính viễn vọng khác cũng tìm kiếm tín hiệu. Kính viễn vọng Australian Telescope Compact Array xác định được vị trí của chớp sóng. Đồng thời, kính viễn vọng quang học Subaru khẩu độ 8,2m ở Đài thiên văn Quốc gia Nhật Bản cũng phát hiện chớp sóng đến từ một thiên hà cách Trái Đất 6 tỷ năm ánh sáng, theo The Guardian.

Đây là lần đầu tiên nguồn gốc cũng như khoảng cách di chuyển của FRB được đo đạc. 

Theo một số tính toán nội suy chưa chính xác, tạm tính tổng khối lượng vũ trụ vào khoảng 1,393 x 10^1153 (+/- 35%) tỷ tấn. Những đo đạc, tính toán và các công cụ khoa học mạnh khác sẽ được phát minh và cho kết quả chính xác hơn trong tương lai không xa.

2/. Các chiều không gian:

Khởi đầu của Big Bang (được ký hiệu là Bo), là Singularity kích thước bằng không (0), nên chưa có không gian + chưa có các chiều + các thước đo lượng tử + các luật vận động và chuyển hóa. 

Bo giãn nở. Rất nhiều các chiều không gian trải rộng đẳng hướng về tất cả mọi phía, vùng không gian gọi là Vũ trụ đột ngột hình thành. Mô hình vũ trụ mảng, vũ trụ mảng và vũ trụ bong bóng xuất hiện. Vật chất và năng lượng “dưới kỳ dị” tỏa ra trong không gian theo các mảng, màng và bong bóng tạo thành các “kiểu” vũ trụ cùng tồn tại với tốc độ nhanh hơn cả vận tốc ánh sáng. Vũ trụ nguội bớt, tốc độ giãn nở chậm dần làm một số chiều không gian co lại (chỉ còn 11 chiều không gian và 1 chiều thời gian ghi nhận được hiện nay) và bắt đầu pha lạm phát ở khoảng t= 1 x 10^-43s.

Trong một mảng (màng hay bong bóng) vũ trụ, nơi có chúng ta đang tồn tại hiện nay, nguội nhanh hơn “một chút” vì lý do nào đó (chưa được nghiên cứu) mà có 7 chiều không gian co lại thành hằng điểm lượng tử (đủ nhỏ đến mức chúng ta chưa có điều kiện kỹ thuật để ghi nhận và quan sát), chỉ còn lại 3 chiều không gian và 1 chiều thời gian (mở sẵn từ khi khởi đầu Big Bang), tồn tại và xác lập tương tác lực với 4 lực cổ điển (là Lực hấp dẫn + Lức điện từ + Lực tương tác mạnh + Lực tương tác yếu) và 2 lực nhận thức (là Lực siêu hạn / lực thứ 5 và Lực chân không lượng tử / lực thứ 6, mới được phát biểu trong năm 2018 này).

3/. Vũ trụ giãn nở mà không co lại:

Vũ trụ với không – thời gian 4 chiều lẽ ra phải giãn nở chậm dần đến khi dừng rồi co lại cho đến kích thước của Bo, nhưng tương quan sáng/tối của vật chất (vật chất và vật chất tối) lại thúc đẩy vũ trụ giãn nở với gia tốc Hubble ~ 464 km/s/Mpc.

Vũ trụ sẽ giãn nở đến khi vật chất ở “rìa vũ trụ đạt (và vượt) tốc độ ánh sáng chỉ trong khỏang thới gian hơn 130 tỷ năm tới mà không kịp “dừng” (cần khỏang 2000 tỷ năm để dừng). 

Đứng trên giác độ siêu vĩ mô thì vũ trụ là Siêu Giãn (không có trạng thái dừng).

Như vậy, xuất hiện nan đề : Vũ trụ giãn đến đâu ? Hay là vũ trụ giãn đến mức độ chỉ còn là những nguyên tử rời rạc, càng ngày càng cách xa trong không gian, chỉ để lại không – thời gian trống rỗng?

4/. Vũ trụ “co” tương đối tính:

Như đã phân tích ở các phần trên, vật chất đạt đến tốc độ ánh sáng hình thành Rìa Vũ Trụ. Nơi đó thời gian t = 0, các chiều không gian còn lại đều “co rút” trở về hằng điểm lượng tử. Nghĩa là ở đó vũ trụ S = Bo = 0. Cơ sở tính toán của xác lập này là các công thức của thuyết Einstein mở rộng : 

a/, L = [(căn) 1 – {v(bình phương) / c (bình phương)}] / Lo 

b/. T = [(căn) 1 – {v(bình phương) / c (bình phương)}] / To 

trong (a) và (b) thì tử số bằng không khi v (tốc độ vật chất) tiến đến c (tốc độ ánh sáng). Lúc đó L (thước đo không gian) và T (thời gian) bằng không (0). Tổng khối lượng M và Tổng năng lượng P đều không đổi và vẫn là con số khổng lồ.

Nói khác đi, rìa vũ trụ chính là “điểm kỳ dị” Singularity. Nói theo lý tính thông thường thì vũ trụ đã “co” tương đối tình về hằng điểm lượng tử Bo.

Điều kỳ dị nào đã diễn ra?

5/. Mô hình đa giới của vũ trụ:

Chúng ta dựng giản hình trực quan để hiểu hơn về vũ trụ đa giới (xem hình ảnh kèm theo).

a/. Ở điểm Big Bang bắt đầu, vũ trụ là Bo Singularity, không gian và thời gian chưa tồn tại nên không có bất cứ định luật nào được xác lập. Năng lực của vũ trụ là không có giới hạn.

b/. Vũ trụ giãn nở, các chiều không gian mở ra đẳng hướng, các thế giới mở ra, trong mỗi thế giới có một số chiều mở ra, những chiều kia vẫn khép thành hằng điểm, trong đó có thế giới chúng ta (và chúng ta chỉ quan sát thế giới này). Các định luật xuất hiện, qui chiếu và giới hạn các vận động của nó (đa giới vật lý).

c/. Sau gần 14 tỷ năm, chúng ta tồn tại trong giản hình không – thời gian này với mọi định luật, lực và thuộc tính vật lý. 

d/. Sau 108 tỷ năm, vật chất ở pha đầu tiên của giãn nở hình thành vũ trụ mà ta gọi là Big Bang sẽ đạt tốc độ ánh sáng để hình thành Rìa Vũ Trụ. Các chiều không gian và thời gian của vũ trụ co lại về không. Mọi định luật biến mất, tương quan nhân quả bị đảo lộn. Đó là giới hạn không thể vượt qua (đa giới tương đối tính).

Diễn tả theo nhận thức trực quan thì vũ trụ “lùi” trên trục thời gian để trở về quá khứ, còn không gian thì co lại để đạt trạng thái vi mô, rồi siêu vi mô, cuối cùng là hằng điểm lượng tử Bo.

Một quan sát viên trên chặng đường “quay về Singularity” sẽ không thể ghi nhận được quá trình, vì mọi thước đo đều vô giá trị.

e/. Vũ trụ Singularity lúc bấy giờ chui qua đường hầm vũ trụ với t = 0, l = 0, cung cấp thuộc tính hằng điểm lượng tử cho Bo ở chu kỳ đa giới trước.

6/. Tóm lại về vũ trụ đa giới:

– Vũ trụ trong nhận thức của con người hiện nay chì là một thời điểm trong tiến trình vũ trụ đa giới. Tuy nhiên Khoa học Lượng Tử có thể tính toán, phán đoán và giải mật quá trình đa giới đó.

– Do Bo là trạng thái hằng điểm lượng tử, chưa có không – thời gian và thuộc tính vật chất nên chưa có Luật Bảo toàn Năng Lượng (và vật chất), do đó không có gì để vi phạm. Các luật tương đối tính chưa được xác lập (vì ánh sáng cũng chưa có) nên vận tốc giãn nở của vũ trụ vượt tốc độ ánh sáng là chuyện “bình thường”.

– Trạng thái vũ trụ hỗn loạn ban đầu ở thời điểm sau Bo ngày càng được ổn định dần, cho đến trạng thái ổn định siêu hạn Bo cho thấy tiến trình vũ trụ đa giới phù hợp hoàn toàn với định luật Entropy.

– Vũ trụ đa giới là quá trình tuần hoàn.

——- 

Xem lại  Phần I : TIẾN TRÌNH ĐA GIỚI CỦA VŨ TRỤ 

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 29/12/2018.

TIẾN TRÌNH ĐA GIỚI CỦA VŨ TRỤ (Phần 1)

Hỏi :  Hoàng Sa

Ở rìa vũ trụ, nơi đó mọi kích thước bằng không, nghĩa là vũ trụ co thành một điểm lượng tử có khối lượng khổng lồ, năng lượng và mật độ cực hạn, chẳng lẽ là để chuẩn bị một vụ nổ lớn tiếp theo? Nơi đó ở đâu?

Đáp : Wambua Dominic

Câu hỏi này, bản chất là câu hỏi về tiến trình đa giới của vũ trụ. Nội hàm khoa học của câu hỏi quá lớn, không đủ chỗ để trả lời chỉ trong một comment.

Phần I : BIG BANG LÀ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN CỦA VŨ TRỤ.

1/. Xuất hiện mô hình Big Bang:

a- Tiến trình của vũ trụ là một vấn đề lớn mà cho đến nay, các ngành khoa học kỹ thuật và xã hội cũng như triết học đều rất mơ hồ, hoang mang, thậm chí phát biểu linh tinh kiểu “hóng hớt” mà không có một chút lý luận hay tính toán khả tín nào. Trong đó thuyết Big Bang (Vụ nổ lớn hình thành vũ trụ) là một lý thuyết khoa học đã được kiểm chứng và được cộng đồng khoa học chấp nhận rộng rãi, có nhiều bằng chứng thực nghiệm để củng cố vị trí của nó. Đặc biệt là việc ghi nhận và đo lường được bức xạ nền vi sóng vũ trụ tàn dư từ 13,8 tỷ năm trước (phát hiện ra vào năm 1964), và đặc biệt khi phổ của nó (lượng bức xạ đo được ứng với mỗi bước sóng) được phát hiện phù hợp với bức xạ vật đen. Từ đó, các nhà thiên văn vật lý đã kết hợp những dữ liệu lớn trong quan sát và đưa thêm những tính toán lý thuyết vào mô hình Vụ Nổ Lớn, và mô hình tham số của nó hay mô hình Lambda-CDM trở thành khuôn khổ lý thuyết cho những nghiên cứu hiện đại về vũ trụ học càng chứng tỏ lý luận về Big Bang là đáng tin cậy.

b- Nhà vũ trụ học và là linh mục Georges Lemaître là người đầu tiên đề xuất lý thuyết Vụ Nổ Lớn trong nghiên cứu của ông về “giả thuyết về nguyên tử nguyên thủy”. Sau nhiều năm, các nhà vật lý dựa trên ý tưởng ban đầu của ông, xây dựng lên các lý thuyết khác nhau và được tổng hợp lại thành lý thuyết Big Bang hiện đại. Khuôn khổ cho lý thuyết Vụ Nổ Lớn dựa trên thuyết tương đối rộng của nhà vật lý Đức Albert Einstein và trên giả thiết đơn giản về tính đồng nhất và đẳng hướng của không gian. Dựa vào phương trình trường Einstein, nhà vũ trụ học Alexander Friedmann đã tìm ra được các phương trình chi phối sự tiến hóa của vũ trụ.

c- Mô hình vũ trụ của thuyết Big Bang là, từ khởi thủy cách nay 13,8 tỷ năm, xuất hiện một điểm lượng tử kích thước bằng không, có khối lượng và năng lượng cực lớn. Điểm lượng tử đó giãn nở với tốc độ khủng khiếp và được xem là vụ nổ lớn, vũ trụ “bung” ra đẳng hướng (tăng cả thước đo không gian lẫn vật thể) có gia tốc. Sau 13,8 năm thì vũ trụ có độ rộng lớn như hiện nay và vẫn đang gia tốc giãn nở. 

Sự giãn nở của vũ trụ, trạng thái cực nóng lúc sơ khai, sự hình thành của heli, và sự hình thành các thiên hà— được suy luận ra từ những quan sát khác độc lập với mọi mô hình vũ trụ học. Các nhà vật lý biết rằng khoảng cách giữa các đám thiên hà đang tăng lên, và họ lập luận rằng mọi thứ đã phải ở gần nhau hơn khi trở về quá khứ. Ý tưởng này đã được xem xét một cách chi tiết khi quay ngược trở lại thời gian đến thời điểm vật chất có mật độ và nhiệt độ cực cao.

d- Sự giãn nở là ở bản chất của không gian giãn nở, chứ không phải là vật chất và năng lượng “nở ra” vào một không gian cố định trước đó. 

Tại thời điểm t= 1 x 10^-43s: Vũ trụ là vô cùng nhỏ bé, dày đặc và có nhiệt độ rất cao. Các nhà khoa học ước tính, lúc này vũ trụ chỉ kéo dài trên 1 khoảng 1 x 10^-33 cm – so với không gian trải dài hàng tỷ năm ánh sáng như ngày nay. Trong giai đoạn này, vật chất và năng lượng là không thể tách rời. Bốn lực cơ bản của vũ trụ trở thành một lực thống nhất. Và nhiệt độ của vũ trụ lúc này ước tính vào khoảng 10^32 độ C.

Khoảng xấp xỉ thời điểm 10^−36 giây trong giai đoạn giãn nở, một sự chuyển pha là nguyên nhân gây ra sự giãn nở lạm phát của vũ trụ, khi thể tích của vũ trụ mở rộng tăng theo hàm mũ diễn ra trong khoảng thời gian rất ngắn đến thời điểm giữa 10^−33 và 10^−32 giây. Sau giai đoạn lạm phát, kích thước vũ trụ đã tăng lên gấp 10^30 so với kích thước ban đầu.

e- Khi giai đoạn lạm phát kết thúc, vũ trụ lúc này chứa pha vật chất plasma quark–gluon, cũng như các hạt cơ bản khác. Nhiệt độ lúc này vẫn rất cao do vậy chuyển động ngẫu nhiên của các hạt là chuyển động với vận tốc tương đối tính, và sự sinh các cặp hạt – phản hạt liên tục tạo ra và hủy các cặp hạt này trong các va chạm. Ở một thời điểm chưa được biết chính xác, các nhà vật lý đề xuất tồn tại một pha gọi là “nguồn gốc phát sinh baryon” (baryongenesis) trong đó các phản ứng giữa vật chất và phản chất có sự vi phạm định luật bảo toàn số baryon, dẫn đến sự hình thành một lượng dư thừa rất nhỏ các hạt quark và lepton so với lượng phản quark và phản lepton— với tỷ lệ khoảng một hạt vật chất dư ra trên 30 triệu phản ứng. Kết quả này dẫn đến sự vượt trội về vật chất so với phản vật chất trong vũ trụ ngày nay.

f- Vũ trụ tiếp tục giảm nhiệt độ và mật độ, hay động năng của các hạt tiếp tục giảm (những sự giảm này là do không thời gian tiếp tục giãn nở). Hiện tượng phá vỡ đối xứng ở giai đoạn chuyển pha đưa đến hình thành riêng rẽ các tương tác cơ bản của vật lý và những tham số của các hạt sơ cấp mà chúng có như ngày nay. Sau khoảng 10^−11 giây, do năng lượng của các hạt giảm xuống giá trị mà các nhà vật lý hạt có thể đánh giá và đo được trong các thí nghiệm trên máy gia tốc. Đến 10^−6 giây, hạt quark và gluon kết hợp lại thành baryon như proton và neutron. Một lượng dư thừa quark so với phản quark dẫn đến hình thành lượng baryon vượt trội so với phản baryon. Nhiệt độ lúc này không đủ cao để phản ứng sinh cặp proton–phản proton xảy ra (và tương tự cho sinh cặp neutron–phản neutron), do vậy sự hủy khối lượng ngay lập tức xảy ra để lại đúng 1 hạt trong 10^10 hạt proton và neutron, và không hạt nào có phản hạt của chúng. Một quá trình tương tự diễn ra khoảng 1 giây cho cặp hạt electron và positron. Sau quá trình hủy cặp hạt-phản hạt, vũ trụ chỉ còn lại các proton, neutron và electron và những hạt này không còn chuyển động với vận tốc tương đối tính nữa và mật độ năng lượng của Vũ trụ chứa chủ yếu photon (với một lượng nhỏ là đóng góp của neutrino).

g- Một vài phút sau sự giãn nở, khi nhiệt độ lúc này giảm xuống 1 tỷ (10^9; SI) Kelvin và mật độ tương đương với mật độ không khí, lúc này hạt neutron kết hợp với proton để hình thành lên hạt nhân deuteri và heli trong quá trình gọi là phản ứng tổng hợp hạt nhân. Hầu hết những proton không tham gia phản ứng kết hợp trở thành proton tự do và chính là hạt nhân của nguyên tử hiđrô. Vũ trụ tiếp tục lạnh đi, mật độ năng lượng và khối lượng nghỉ của vật chất lấn át về lực hấp dẫn so với bức xạ photon. Sau khoảng 379.000 năm, nhiệt độ vũ trụ lúc này khoảng 3.000 K, electron và hạt nhân bắt đầu kết hợp lại với nhau tạo nên nguyên tử (chủ yếu là hiđrô); và bức xạ photon không tương tác với electron tự do, nó không còn bị cản trở bởi plasma và lan truyền tự do trong không gian. Bức xạ tàn dư này chính là bức xạ phông vi sóng vũ trụ.

h- Sau khoảng 56.000 năm, nhiệt độ vũ trụ đã hạ xuống chỉ còn khoảng 9000 độ C, và tại thời điểm này, mật độ vật chất của vũ trụ đã bắt đầu phù hợp với mật độ bức xạ. Trải qua khoảng 300.000 năm nữa, nhiệt độ chỉ còn là 3000 độ C, và cuối cùng, proton và electron đã có thể kết hợp với nhau để tạo ra các nguyên tử Hydro đầu tiên. Bốn lực cơ bản của vũ trụ xác lập (bao gồm lực Hấp dẫn + Lực điện từ + Lực tương tác mạnh và Lực tương tác yếu).  Gần đây, sự phát hiện và phân tích Lực vũ trụ thứ 5 (SupperPower) của Attila Krasznahorkay năm 2018, có khả năng soi sáng bí ẩn của vật chất tối (và năng lượng tối), góp phần làm sáng tỏ những gì diễn ra sau pha vũ trụ lạm phát đến nay (và trong vài chục tỷ năm tới).

i- Khoảng 380.000 năm sau Big Bang, ánh sáng đã xuất hiện. Bức xạ nền vi sóng vũ trụ đã hình thành, và với việc nghiên cứu những bức xạ này, giờ đây con người đã có thể phác thảo lại hình ảnh vũ trụ từ thuở sơ khai ban đầu. 

Cho đến khoảng 100 triệu năm sau hoặc lâu hơn thế, vũ trụ vẫn tiếp tục giãn nở và được làm mát. Một vài biến động nhỏ về lực hấp dẫn sẽ khiến cho các phần tử vật chất co cụm lại với nhau, chúng trở nên dày đặc hơn, và nóng hơn, và sau khoảng 1 đến 2 trăm năm, các ngôi sao ra đời.

Khi một ngôi sao nào đó già cỗi đi và phát nổ, những mảnh vật chất sẽ bắn đi khắp vũ trụ, và tạo nên những nguyên tố nặng mà ta có thể tìm thấy trong tự nhiên (những nguyên tố có khối lượng trên Uranium). Những dải thiên hà bắt đầu hình thành nên các cụm riêng, và dải thiên hà của chúng ta được hình thành từ cách đây khoảng 4.6 tỷ năm.

j- Vào năm 1920, nhà thiên văn học Edwin Hubble đã phát hiện ra một điều rất lý thú: Vận tốc xuất hiện của một ngôi sao tỷ lệ thuận với khoảng cách của nó từ Trái đất. Nghĩa là, một ngôi sao ở càng xa Trái đất thì sẽ di chuyển càng nhanh ra xa chúng ta. Với giả thuyết này, một lần nữa Hubble khẳng định rằng vũ trụ đang tiếp tục giãn nở.

Phát hiện của Hubble đưa đến một cuộc tranh cãi vẫn tiếp diễn đến ngày nay: Chính xác thì mối quan hệ giữa vận tốc và khoảng cách của một ngôi sao là gì? Các nhà khoa học gọi đây là hằng số Hubble, và Hubble đưa ra giả thuyết rằng nó vào khoảng 464 km/s/Mpc. Mpc – viết tắt của Megaparsec là một đơn vị khoảng cách tương ứng với 3.08 x 10^22m.

2/. Khai tử mô hình Vũ Trụ Dừng:

Sự diễn đạt thành công và phù hợp với thực nghiệm của thuyết Big Bang đã khai tử mô hình vũ trụ dừng (nghĩa là quan điểm từ khởi thủy, vũ trụ đã rộng lớn và chứa vật thể như hiện nay, các thiên hà đều là những ốc đảo chơi vơi trong khoảng không gian vũ trụ vô cùng vô tận). 

——— 

Xem tiếp Phần II : VŨ TRỤ ĐA GIỚI TUẦN HOÀN.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic, 27/12/2018.