BỆNH KHÓ ĐÔNG MÁU

Bệnh khó đông máu (hoặc máu chậm đông + máu không đông) thuộc nhóm bệnh tự miễn, là nhóm bệnh mà Đông – Tây Y đều bó tay, không có thuốc chữa (như vẩy nến, Lupus ban đỏ hệ thống, tan máu bẩm sinh, ly thượng bì v.v…)..
Muốn đề cập đến bệnh máu khó đông phải đề cập đến nguyên lý đông máu. 

Cầm máu :
Khi thành mạch bị thương tổn thì xuất hiện hiệu ứng co mạch, đó là phản ứng tự vệ của cơ thể. Sự co mạch tại chỗ có thể kéo dài nhiều phút đến vài giờ. Cầm máu là quá trình ngăn cản sự chảy máu. 
Khi mạch máu bị tổn thương hoặc bị đứt, quá trình cầm máu đáp ứng nhanh, khu trú tại vùng tổn thương và được kiểm soát chặt chẽ. Quá trình cầm máu được thực hiện nhờ những cơ chế: co mạch, hình thành nút tiểu cầu, đông máu, hoặc phát triển mô xơ trong cục máu đông để đóng kín vết thương.

Hình thành nút tiểu cầu
Tiểu cầu thực chất là một mảnh tế bào được vỡ ra từ tế bào nhân khổng lồ. Sau khi được phóng thích từ tuỷ xương, chỉ có 60-75% tiểu cầu lưu thông trong máu, phần còn lại được giữ ở lách.
Số lượng bình thường của tiểu cầu trong máu là 150.000-300.000/mm3, đời sống tiểu cầu thay đổi từ vài ngày đến hai tuần.
Tiểu cầu có kích thước 2-4 mm, không có nhân nhưng bào tương có nhiều hạt. Có 2 loại hạt là:
– Hạt alpha chứa PDGF (platelet-derived growth factor) có tác dụng giúp liền vết thương.
– Hạt đậm đặc chứa ADP, ATP, Ca2+, serotonin và epinephrine.
Ngoài ra tiểu cầu còn chứa các enzym để tổng hợp thromboxane A2; yếu tố ổn định fibrin, tiêu thể và các kho dự trữ Ca2+. Đặc biệt, trong tiểu cầu có các phân tử actin, myosin, thrombosthenin giúp nó co rút.
Màng của tiểu cầu chứa một lượng lớn phospholipid. Bề mặt của tiểu cầu có một lớp glycoprotein ngăn cản nó dính vào nội mạc bình thường.

Đông máu
Bình thường máu trong lòng mạch máu luôn ở dạng lỏng (sol). Tuy nhiên, khi mạch máu bị tổn thương hoặc máu chảy ra khỏi cơ thể, máu sẽ chuyển sang dạng đặc (gel). Quá trình hình thành dạng gel đó được gọi là quá trình đông máu.
Trong cơ thể có hơn 50 chất ảnh hưởng đến sự đông máu. Những chất thúc đẩy đông máu được gọi là yếu tố đông máu, những chất ngăn cản đông máu được gọi là chất chống đông.

Tóm lại, trong cơ thể luôn có sự cân bằng giữa hai hệ thống: làm đông máu và chống lại quá trình đông máu. 
– Hệ đông máu là hệ thống bảo vệ cơ thể tránh chảy máu. 
– Hệ chống đông máu gìn giữ máu dạng lỏng lưu thông lòng mạch, bảo đảm tuần hoàn duy trì sự sống. 
Mất cân bằng hai hệ này sẽ dẫn đến hậu quả làm tắc mạch hoặc chảy máu. Như vậy nguyên nhân của bệnh khó đông máu chính là bệnh lý gây trở ngại cho hệ đông máu, tạo thành bệnh khó đông máu. Khó đông máu là bệnh nguy hiểm, khi người bệnh mang vết thương thì có thể chảy máu mãi đến khi rơi vào tình trạng mất máu, bất tỉnh và tử vong nếu không được can thiệp Y Học.

Như phân tích ở phần trước, ta có thể xác định 3 nguyên nhân gây trở ngại đông máu :

1/. Thành mạch kém : Cấu tạo thành mạch kém làm cho mạch máu dễ bị thương tổn, bị rách dù với các sang chấn nhẹ, thậm chí không có sang chấn thì vẫn có các thương tổn, gây chảy máu. Nếu máu chảy nhiều và mạch máu không đủ sức căng (co mạch) để khép miệng vết thương trên thành mạch thì máu sẽ chảy hoài đến khi nguy hiểm.
Biểu hiện đặc trưng của hội chứng kém thành mạch là thường xuyên bị các vết bầm rất lâu tan với các va chạm nhẹ, thậm chí không có va chạm cũng có thể bầm, dân gian thường gọi là “ma cắn”. Cùng với huyết áp cao thì kém thành mạch sẽ làm tăng xác suất tai biến mạch máu não, đột quỵ. Có những trường hợp huyết áp không quá cao mà vẫn bị đột quỵ, đều là do thành mạch kém.

2/. Thiếu tiểu cầu (và do đó khó hình thành sợi huyết) : Khi thành mạch bị tổn thương, lớp collagen nằm bên dưới tế bào nội mạc mạch máu được lộ ra. Tiểu cầu sẽ đến bám vào lớp collagen này, và được hoạt hoá. Tiểu cầu phình to ra, thò các chân giả và giải phóng nhiều chất, trong đó có một lượng lớn ADP, thromboxane A2. ADP và thromboxane A2 hoạt hoá các tiểu cầu ở gần và làm chúng dính vào lớp tiểu cầu ban đầu (gọi là kết tập tiểu cầu). Rồi lớp tiểu cầu đến sau này lại giải phóng các chất hoạt động làm hoạt hoá và dính thêm lớp tiểu cầu khác. Cứ như vậy, các lớp tiểu cầu đến dính vào chổ tổn thương càng lúc càng nhiều tạo nên nút tiểu cầu, bịt kín vết thương ở thành mạch. 
Sự hình thành nút tiểu cầu có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bít kín các thương tổn nhỏ ở các mạch máu nhỏ xảy ra hàng trăm lần mỗi ngày.

3/. Các yếu tố đông máu :
13 yếu tố đông máu quan trọng nhất (trong hơn 50 loại) như sau:
Yếu tố I : Fibrinogen.
Yếu tố II : Prothrombin.
Yếu tố III : Thromboplastin tổ chức.
Yếu tố IV : Calcium.
Yếu tố V : Proaccelerin.
Yếu tố VII : Proconvertin.
Yếu tố VIII : Yếu tố chống chảy máu A.
Yếu tố IX : Yếu tố chống chảy máu B còn gọi là yếu tố Christmas.
Yếu tố X : Yếu tố Stuart.
Yếu tố XI : Tiền Thromboplastin huyết tương.
Yếu tố XII : Yếu tố Hageman.
Yếu tố XIII : Yếu tố ổn định Fibrin.
Các yêu tố đông máu này thúc đẩy nhanh quá trình đông máu, hình thánh cục máu đông làm nút chặn vết thương đang chảy máu. Sự hình thành, tồn tại và phương thức hoạt động của “một lô một lốc” yếu tố đông máu này làm cho Đông lẫn Tây Y đều không thỏa mãn nổi, làm cho bệnh khó đông máu trở thành bệnh … bó chiếu.

May mắn là Y Dược Học Lượng Tử có thứ để thỏa mãn các nhu cầu cần thiết cho một loạt các cấu tử đông máu và yếu tố đông máu đó.

1/. Xem kỹ phần 1 và 2, ta thấy rằng chính hệ miễn dịch bị lệch lạc nên đã tấn công làm giảm thành mạch, giảm hàm lượng tiểu cầu hoặc (và) làm rối loạn các yếu tố đông máu.

2/. Nhắc lại về nhận thức 5 hệ tụ vệ của cơ thể : Trong cơ thể người có 5 hệ tự vệ cơ bản :
– Hệ miễn dịch.
– Hệ phản vệ.
– Hệ đề kháng.
– Hệ thích nghi.
– Hệ đồng hóa – dị hóa.

3/. Dược lý chữa bệnh máu khó đông.
Vì vậy, tác động dược học liệu trình đầu tiên để chống bệnh máu khó đông phải nhằm :

a/. Kìm hãm hệ miễn dịch dưới mức có thể gây tự miễn (dùng thuốc chống dị ứng). Tuy nhiên kìm hãm hệ miễn dịch thì cơ thể dễ mắc các bệnh nhiễm trùng không đáng có, bệnh “vặt”.
b/. Cường hóa hệ đề kháng tạm thời làm thay một phần nhiệm vụ của hệ miễn dịch (dùng thuốc viêm + Plus 50%).
c/. Tăng cường độ dẻo dai và sức căng thành mạch (dùng thuốc thành mạch. Có thể phối hợp với tăng Tuần hoàn ngoại biên).
d/. Tăng tiểu cầu bằng bài thuốc tiểu cầu, với các dược vị chính là Dây máu người + Cỏ nhọ nồi + Trái khổ + Tía tô + Hoa hòe + Mộc nhĩ. Bài thuốc ngoài tác dụng tăng tiểu cầu, còn có tác dụng ổn đinh hoạt động của nhóm yếu tố đông máu từ yếu tố I đến yếu tố VII. Ngoài ra cần hỗ trợ Vitamin K để cân bằng hoạt tính của nhóm yếu tố đông máu tù yếu tố X đến yếu tố XIII

Liệu trình (các liệu trình) tiếp theo gia giảm tùy theo diễn tiến của bệnh nhân. Liệu trình cuối cùng là trả lại hoạt độ vốn có của hệ miễn dịch và hệ đề kháng.

Theo Thầy Kim

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.