BÍ ẨN 5000 NĂM CÔNG NGHỆ XÂY DỰNG KIM TỰ THÁP AI CẬP – Phần 3

PHẦN III : SA ĐIỀU : NHỮNG ĐIỀU CHƯA NÓI.

1. Sa điều chuyển cát : Khi cát đã được “sấy” khô dưới ánh nắng mặt trời gay gắt của các vùng sa mạc, thì nó sẵn sàng cho một cuộc du lịch , dù với chỉ một làn gió không lớn. Tại sao vậy?

– Xét trên một hạt cát mẫu, khi vừa di chuyển, nó trượt và cọ sát lên các hạt cát kế nó, thì nó đã đã tạo ra tĩnh điện bề mặt.

– Từng cụm, nhóm cát hạt cát sẽ trao đổi điện tích và mau chóng đồng đẳng điện tích với nhau. Những hạt cát trong phạm vi một cụm cát sẽ có hiện tượng đẩy nhau do có cùng dấu điện tích (hạt cát mang điện dương phía trên, hạt cát mang điện âm “trầm” xuống dười và bị trung hòa điện tích). Nó mau chóng xốp lên và phồng như một túm bông. “Túm bông” cát này sẽ nhanh chóng được các luồng gió nhẹ (>3ms) mang đi rất xa hàng Km mới rơi xuống.

– Hiện tượng đó nhanh chóng tạo phản ứng dây chuyền trên bề mặt của cả một vùng rộng lớn trên sa mạc cát. Nó tạo thành một vùng có tính hoạt động rất cao. Có khi nó tạo ra một khu vực khá lớn và có độ hoạt động rất sâu trên đại mạc, gọi là vũng lấm.

Trích dẫn:
Vũng lấm là một khu vực khá rộng hình thành ngẫu nhiên trên sa mạc. Nơi đó, cát rất xốp do hiệu ứng xô đẩy tĩnh điện, có khi sâu hàng chục mét. Người và vật trên sa mạc khi vô tình vào vũng lấm sẽ bị nuốt chửng, bị chôn sâu nhiều mét mất tích, là một cái chết rất nguy hiểm và khó tránh.
Hiện tượng vũng lấm, có nhiều nơi ở Việt nam gọi là “cát lầm”, và nhiều cái chết thương tâm đã xảy ra dưới sự hiểu biết rất kém, trong sự giải thích mập mờ rất hạn chế của các giới KH VN và cái nhìn mang nét thần bí đặc trưng của cư dân bản địa….

Ca dao cổ VN cũng nhăc đến hiện tượng cát lầm với ý nghĩa là một mất mát lớn vì ngộ nhận :
Hoa sen mọc bãi cát lầm
Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen…
………………………………………………….
Chắc trời soi xét nơi đâu
Chẳng soi cảnh thảm cảnh sầu này chọ

Dị bản :
Đem thân vào chốn cát lầm
Cho thân lấm láp như mầm ngó sen
Đêm đêm ngồi tựa bóng đèn
Than thân với bóng, giải phiền với hoa

– Cát, vì thế mà không còn là “khối” cát mà là “đám bông gòn” cát khi có gió thổi tung lên. Và cứ theo hiệu ứng tĩnh điện mang tính dây chuyền đó, nó được gió không cần quá lớn (chỉ cần > 3 Kms) chuyển đi không mấy khó khăn. Một đêm gió – cát trên đại mạc, ngang với 1.000 máy xúc ủi hiện đại 2500 mã lực làm việc suốt một tuần lễ.

2. Đón cát : Chuyển cát đi thì đã thấy năng lực lớn lao của kỹ thuật sa điều. Nhưng việc tập kết cát về ngay chân Kim Tự Tháp dở dang kia, là cả một sự kinh khủng của trí tuệ ông cha cổ đại của chúng ta.

HỌ DÙNG KỸ THUẬT VI BA

Đó là một vài căn phòng trống rỗng và kín, xây dựng đầu tiên bên trong nơi sẽ là Kim Tự Tháp. Nó cộng hưởng với các giai âm, các chuyển động cơ học trong khí quyển và còn do tiếng trống, tiếng đàn hát, tiếng động di chuyển v.v… của các nhạc công, thợ xây dựng nũa, để tạo ra các dao động vi ba.

Các sóng vi ba này sẽ trung hoà điện tích của các hạt cát đang rất hoạt động do chứa điện tích. Do đó mà chùng trở nên nặng hơn và rơi xuống chân công trình. Các tính toán về tần số, về nặng lượng tới hạn của các hạt cát đủ để trung hoà bằng sóng vi ba đã được hoàn tất.

Trích dẫn:
. . . bên trong lòng Kim Tư Tháp Cheopk có những căn phòng trống rỗng, cộng hưởng tần số vi ba với cường độ và biên độ rất cao, mà cho đến nay chưa ai biết là nó dùng để làm gì ….
… một vài ý kiến cho rằng nó là linh kiện chủ sóng viễn thông liên hành tinh khổng lồ của những nhân vật khổng lồ đến đây từ các hành tinh xa xôi và xây dựng nên Kim Tự Tháp ….
(trích wikipedia)

TÂM SỰ “MỎNG”

Xin nói nhanh, xem như không phải trả lời “trả vốn” gì, mà là tí ti “tâm sự mỏng” về quá trình nghiên cứu nhỏ nhoi của mình cho rộng đường dư luận (hay đùa vui gì cũng được).

– Vũ Kim đã từng đi lang thang, chịu đói khát và…. nám đen cả người trên sa mạc Egypt hơn 4 tháng ròng rã, mong tìm “thứ gì đó” mà rốt cục chả thấy gì hết. Đó là cách đây gần 30 năm, thời còn… đi làm mướn kiếm tiền học đủ thứ. Cái vụ đi tìm “thứ gì mình chẳng biết” này là do một tay nghiên cứu Ai Cập học đài thọ để tìm cho một ít dữ liệu anh ta chứ không phải anh Vũ Kim tự đi nghiên cứu đâu (lấy tiền học thêm mà). Do anh Vũ Kim may mắn có chút đỉnh ngữ Egypti, mà cái tay “nghêng” cứu nọ thì … không biết chữ Egypti nào. Buồn cười chưa !!!

– Gần 15 năm sau đó, lúc nghiên cứu gạch không nung của đền tháp Champa (xin xem “công nghệ gạch không nung hoá thạch” cùng tác giả) ở nhiều nơi trên đất VN, từ tiểu sa mạc Hương An Quảng Nam – Ba làng An rồi Đồng Dương, Tam Quan (Bình Định), kéo dài đến tiểu sa Bàu Thiêu – Giếng Đá thuộc Chiến Khu Lê Hồng Phong huyền thoại, đến di tích Đại đồn Mang Thít (ngữ Champa, phiên âm tiếng Việt là… Phan Thiết ngày nay) thì anh Vũ Kim mới tình cờ gặp các thầy phù thuỷ sa điều.

– Chứng kiến họ đốt nhang khấn vái, hô phong hoán vũ, kêu gọi thần linh nhiều lần, với con mắt của nhà Lượng tử học và mớ ngữ Champa “giả cầy” học đủ để đi nghiên cứu, anh Vũ Kim nhìn ra ngay khía cạnh vật chất của nó, và hình ảnh sa mạc gió – cát Arabia ùa về. Qua một đêm, hàng ngàn mét khối cát đã được đưa vào đúng chỗ cần thiết, lượng cát mà phải cả nghìn xe ủi hiện đại làm mướt mồ hôi hàng tuần mới mong xong viêc.

Anh chợt “ngộ” ra rằng, tổ tiên Arabia của chúng ta cũng làm chẳng khác.

Gấp rút học mỗi thứ một chút đỉnh ngữ Mongolia, Turmenistani, Pakistani, Afganistani, Arabi và một loạt các ngữ du mục Tân Cương và Trung Á, anh tìm thấy những dấu vết của kỹ thuật sa điều ở khắp mọi nơi nào có sa mạc, …. kể cả ở Egypt (Ai Cập) và Greck (Hi Lạp) cùng bài học chiến thuật sa điều của Đại Hãn Gengis Khan giáng xuống các đại đồn Arab – Ba Tư.

Có một điều khiến cho các nhà nghiên cứu khắp nơi phải thất bại, khó tiếp cận kỹ thuật sa điều, đó là kỹ thuật sa điều ẩn giấu trong hoạt động phù thuỷ mà ta vẫn mê muội cho là mê tín dị đoan.

Do đó mà không ai thèm ngó tới.

Trích dẫn:
Những phù thủy vùng gió cát quả là những chuyên gia khí động thực thụ.

– Như trong bài trên đã nói, muốn ứng dụng kỹ thuật sa điều phải nắm rõ tình hình độ ẩm, hường gió, thuỷ mạo khu vực, nói chung là những chỉ tiêu phong thuỷ. Nếu muốn ứng dụng nó (kỹ thuật sa điều) trên sa mạc Egypt, chắc chắn là anh Vũ Kim phải bỏ ra ít nhất vài năm ăn dầm nằm dể ở Ai Cập hầu tìm ra qui luật phong thuỷ ở đó.

Trích dẫn:
Với một số hiểu biết về hướng gió, phong thổ, họ dễ dàng tạo ra các vùng đất, chỏm đồi v.v…

(Có thể là sau 10 năm, Vũ Kim sẽ đi Nam Tư rồi qua Ai Cập vài năm để hoàn tất thực chứng khoa học của kỹ thuật sa điều trên sa mạc Egypt, hoàn tất luận chứng khoa học xây dựng cổ Ai Cập vô tiền khoáng hậu này, rồi mới về VN qui ẩn.

– Về cách chế tạo ra đá bằng nguyên lý hoá thạch thì anh Vũ Kim đã thực nghiệm hàng trăm lần, mẫu đá hoàn toàn giống với thiên nhiên, và quan trọng nhất là giống với…. đá Kim Tự Tháp. Độ bóng gia công và độ cứng kiến tạo, độ bền hoá và cơ tương tự với đá Hoa cương ở kỷ Đệ Nhị (Second periode palace) mà anh em học Kiến Trúc hay xây dựng chắc chắn phải biết.

Chúng dính nhau hay không qua cách xây dựng kỳ diệu này ? Cứ xem một con dao “lam” cạo râu mỏng dính cũng khó mà len vào giữa hai mép ghép của các khối đá, thì chúng ta có thể nói nó dính hay không dính? Nếu địng nghĩa “dính” là một liên kết cơ – lý – hoá học cho phép hai khối, mảng vật thể khác nhau được áp chặt vào nhau đến nỗi khó tách rời bằng cơ học (trích Larousse – Bách Khoa Đại Từ điển Pháp Âu – Bản tiếng Đức – 6th edition – Lib Fabrik – Bonn – 1995) thì có nghĩa là chúng dính nhau.

Hay nói khác đi, cấu trúc Kim Tự Tháp Kheophk tương tự một khối liên kết thống nhất, mà đó cũng là một phần tạo nên tuổi thọ công trình kinh hoàng – 5.000 năm – và chưa biết đến bao giờ chấm dứt.

– Không có giả thuyết nào của các lão ngư Bình Thuân. Trích lại câu hỏi của secondhand :

Trích dẫn:
Cho hỏi anh Vũ Kim rằng cái “giả thuyết” của các bác Bình Thuận có công bố cho cả thế giới biết chưa vậy ?

Vì người lập giả thuyết là anh Vũ Kim chứ không phải họ. Họ, những bác Sáu Hạp, bác Bổn La (Bình Thuận) v.v… hay các bác Chang Lu~ Hing (Trang Lực Hành – Tân Cương), anh Muhtah Salamando (Turmenistani), Ganilost Nadem (Pakistani) v.v… là hiện thực chứ chưa và không bao giờ là giả thuyết, và họ cũng chẳng màng đến giả thuyết, vì họ cũng chẳng biết Egypt ở đâu, không như anh – Kim – nghiên – cứu – vớ – vẩn (họ nói thế).

Ngôn ngữ Khoa học cần trong sáng và chính xác, nên anh buộc phải đính chính như thế, mong là không phiền lòng các bạn.

– Đề tài này anh Vũ Kim đóng lại từ lâu, dự định lâu lắc mới mở ra lại và hoàn tất nó. Nhưng xuất phát từ một yêu cầu của các bạn nên mở ra sớm hơn dự định… gần 10 năm.

Việc công bố thì anh em không lo, vì ngay từ những năm 90 của thế kỷ trước, anh Vũ Kim đả có viết ngắn thông báo trên các tạp chí nghiên cứu KH nổi tiếng là Nature và Science et Vie, xem như “xí phần” trước.

Đôi dòng ngắn ngủi, xem như là tự sự về một công trình, mong là “mua vui cũng được một vài trống canh”.

Vũ Kim.

LƯỢC SỬ CỔ ĐẠI VIỆT NAM – Phần 3

Phần III : QUỐC GIA ĐẦU TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT, và
HIẾN PHÁP ĐẦU TIÊN CỦA NHÂN LOẠI

Năm 1221 TCN, đoàn người Âu (甌), còn gọi là Tây Âu (西甌) thuộc chủng Arriane trên đại bình nguyên lưỡng hà Ấn – Hằng từ phía Tây Trung Hoa tràn vào đất Lĩnh Nam của cư dân Bách Việt. Họ nhập vào các nhóm Bách Việt và dần dần trở thành một bộ phận của Bách Việt và càng ngày càng xa rời phong tục tập quán của lưu vực Ấn – Hằng, nên được gọi là Âu Việt (甌越). Họ cao lớn, có năng lực thể chất và thể trạng hơn hẳn các nhóm dân Bách Việt khác, ưu thế trong chiến đấu và xây dựng của họ nhanh chóng được khẳng định và trở thành một đầu tàu, một ngòi nổ mạnh trong cuộc chiến không ngừng giành quyền sống của cộng đồng bách Việt trong thời mông muội của lịch sử.

Khi đoàn người Bách Việt tràn xuống phương Nam tìm đất sống thì đại bộ phận Âu Việt lang thang qua các vùng đất lửa Trung Hoa, Tây Á; một bộ phận của họ đi đến cả phần đất Âu Châu hiện nay. Họ dần dà quay lại đất Lĩnh Nam, theo chân đoàn di dân cơ học Bách Việt về đất Giao Châu và quần cư với người Lạc Việt trên dải đất lưu vực sông Hồng phì nhiêu màu mỡ.

Năm 227 TCN, thủ lĩnh Tây Âu mượn tiếng họ Thục để giành lấy quyền làm chủ phương Nam và lập ra Vương Quốc Âu Lạc đầu tiên trong lịch sử Giao Châu.

Trích dẫn:
Cho tới đầu công nguyên thời Hai Bà Trưng, người Việt vẫn chưa có họ. Do đó họ Thụccủa An Dương Vương là một nghi vấn. Nước Thục (ở Tứ Xuyên ngày nay) mất năm 316 TCN. Chống Tần thất bại, con cháu họ chạy xuống phía bắc nước Văn Lang, sống với người Âu Việt. Sau một thời gian đứng vững, thủ lĩnh Âu Việt thôn tính Lạc Việt. Không hẳn thủ lĩnh Âu Việt đã là dòng dõi nước Thục cũ mà có thể chỉ là con cháu của tướng lĩnh, quan lại cũ của Thục, xưng làm họ Thục để thu phục nhân tâm vùng Âu Việt.
Bộ sử lâu đời nhất và gần thời An Dương Vương nhất là Sử ký Tư Mã Thiên chỉ nhắc tới nước Âu Lạc mà không nhắc tới An Dương Vương họ Thục.

Không còn nghi ngờ gì nữa, chính An Dương Vương mới là người xây dựng nên cường quốc Âu Lạc , 227 TCN. Một cuộc giao hoà rất đẹp giữa hai nguồn GEN : Lạc Việt có ưu thế khéo léo và khả năng ngôn ngữ cộng với Âu Việt có tính trạng tuyệt vời, hiếu chiến và giàu tính phấn đầu (*)

HIẾN PHÁP ĐẦU TIÊN CỦA NHÂN LOẠI

Thế giới công nhiên thừa nhận Hiến Chương Octavius – Hoàng Đế La Mã – công bố khoảng năm 240 là hiến pháp đầu tiên của nhân loại.
Cần chú ý rằng Chiếu “Lịch Dân Lập Quốc” của An Dương Vương nhằm khẳng định vương quyền Âu Lạc công bố trước Hiến Chương Octavius gần 500 năm (chính xác là 467 năm) mới là Hiến Pháp đầu tiên của Nhân Loại. Niềm tự hào của người Việt là từ niềm kiêu hãnh Âu Lạc chứ không phải là Con Rồng Cháu Tiên gì gì đó đầy ảo ảnh. Tiếc là vào thời đó (227 TCN), người Việt chưa có chữ viết, chưa có cả chữ Nôm nên Hiến Pháp đầu tiên của người Việt và Nhân loại phải viết bằng chữ Hán cổ, trúc trắc và đầy dị bản.

==================================

(*) Từ nguyên nhân này mà trong cộng đồng người Việt, thậm chí trong một gia đình, thường có 2 nhóm tính trạng khá tương phản thể hiện 2 nhóm GEN : chị (anh) cao lớn kiểu Âu và em (trai, gái) đậm người kiểu Lạc. 
Ví dụ : Hai chị em Thuý Kiều – Thuý Vân được Nguyễn Du diễn tả rất tinh tế các xu thế tính trạng :
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang
…….
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thuỷ nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Phân tích ngữ nghĩa cho thấy Vân đẹp kiểu đầy đặn, sung mãn kiểu Lạc, còn Kiều thì lại cao gầy, ẻo lả kiểu Âu, như dáng vẻ cái đẹp hiện đại…
*** Xin khẳng định lại một lần nữa là ở đây chỉ có vấn đề GEN trội, GEN lặn trong một dân tộc Việt Nam thống nhất và duy nhất chứ không có bất cứ vấn đề chủng tộc hay sắc tộc nào khác. Mọi luận điệu khác đi là hoàn toàn sai lạc với lịch sử thật sự đáng tự hào của Dân Tộc Việt Nam.

===========================

TRẢ LỜI NHANH

1/. Nhắc lại cho rõ : Thục Phán không phải là tên thật của An Dương Vương. Nói khác đi thì :
Trích dẫn:
Năm 227 TCN, thủ lĩnh Âu Lạc mượn tiếng họ Thục để giành lấy quyền làm chủ phương Nam và lập ra Vương Quốc Âu Lạc

Khi đoàn Bách Việt xuôi xuống phương Nam, có cả binh tướng Âu Việt, thì :
Trích dẫn:
đại bộ phận Âu Việt lang thang qua các vùng đất lửa Trung Hoa. Họ dần dà quay lại đất Lĩnh Nam, theo chân đoàn di dân cơ học Bách Việt về đất Giao Châu và quần cư với người Lạc Việt…

Khi đến Tứ Xuyên, tàn binh nhóm con cháu nhà Thục chống Tần thất bại nhập vào với họ (Âu Việt) và dần dà về lại đất Lĩnh Nam, sống cùng người Lạc Việt. Người Âu Việt do đó học hỏi được phương thức tổ chức nhà nước phong kiến của người Thục.
Thủ Lĩnh của người Âu Lạc là Bạch Mạo Tướng Quân (Tướng Mặt Trắng, không phải là họ tên) mượn danh nhà Thục, lấy chiêu bài “chân mệnh đế vương” để qui tụ lòng dân cả hai nhóm Âu Việt và Lạc Việt mà lập ra Vương Quốc chính danh Âu Lạc. vào năm 227 TCN. Đây là nhà nước (phong kiến) đầu tiên của người Việt. ( Thục Khoán – tức Thục Phán – nghĩa là “được nhà Thục giao cho” mà chúng ta vẫn tưởng lầm là tên họ, thực chất là đòn chính trị tuyệt vời của Bạch Mạo Tuớng Quân).
2/. Lòng dân hướng về cuộc kết hợp tuyệt vời của hai tộc Bách Việt đó , được phản ánh bằng huyền sử Thần Kim Quy trao nỏ thần cho An Dương Vương (*) . Công cuộc dựng nước và giữ nước thành công do được cả đất trời, nhân dân và thần thánh hỗ trợ, nói lên rằng người dân Việt đã thấy được tính “danh chính ngôn thuận, hợp lòng trời đẹp lòng người” của vương quốc thần thánh Âu Lạc.
3/. Niềm tự hào chính đáng nhất, sự nghiệp đáng tôn trọng nhất, lịch sử hiện thực nhất của cộng đồng người Việt khắp nơi trên thế giới trong và ngoài Tổ Quốc phải là Âu Lạc uy nghi kỳ vĩ.
Trước Âu Lạc khổng lồ, hiến chương Octavius chỉ là chú bé con mà thôi….

================================

(*) “Đại Tý Vương” (vua tay lớn) là một thần cơ (người có biệt tài chế tạo) , đã chế tạo đồng cơ (lẫy nỏ bằng đồng) làm cho cung nỏ bình thường trở nên bắn được nhiều phát liên tiếp với tốc độ nhanh.
Người mang công nghệ chế tạo Liên Châu Nỗ (nỏ bắn liên tục) trao cho An Dương Vương để vị vua tài đức của đất nước Âu Lạc tranh hùng với thiên hạ, dựng thành Cổ Loa và giữ nước thành công trước các cuộc xâm lăng và nội chiến do các tộc Việt bất mãn chưa qui thuận (huyền sử hoá thành ác điểu và các loài ma quỉ). Do công đức lớn lao mà Người được thánh hoá thành một trong các thượng đẳng tối linh thần của người Việt : Thần Kim Quy.
Tất cả bí mật nằm trong cái lẫy nỏ hình…. móng rùa. Sự thánh hoá thành thần Kim Quy không phải là không căn cứ.
Bản vẽ và phương pháp tác chiến của Liên Châu Nỗ đã được Dr. Kim viết trong một sưu khảo Khoa Học Quân Sự (1999) trên “Humanese History Reseach” (Đức) và các phân tích kèm theo cho thấy Liên Châu Nỗ là một khí tài quân sự hạng nhất trong thời kỳ đó, và kéo dài nhiều trăm năm sau. Cụm từ “Nhất động bách tiễn” (một cử động bắn ra trăm mũi tên) không phải là nói ngoa hay thần thánh nào cả : Đó là trận địa Liên Châu Nỗ điều động dưới đại hồng kỳ. Một cú phất của lá cờ lệnh là hàng trăm mũi tên Âu Lạc – Kim Quy bắn ra, biến địch nhân thành hình con nhím.
Quả là vũ khí đáng kinh sợ của người Âu Lạc làm cho họ có thể hùng cứ phương Nam….

=======================================

TỒNG KẾT

1/. An Dương Vương là người Việt mượn danh nhà Thục chứ không phải là người Trung Hoa.
Tương âm đồng vị giữa Ph và Kh có rất nhiều tiền lệ. Như Kh ai và Ph á, Kh ôi và Ph ục,Kh ương tuyến và Ph ương tiến. Do đó mà từ “khoan đã” trong ngôn ngữ Nam Bộ vẫn nhiều người người nói thành “phang đã”.
Thục Khoán và Thục Phán là nội suy lịch sử như vậy.
2/. Người Tây Âu đã đồng hoá hoàn toàn vào Bách Việt để trở thành Âu Việt, là người Việt đúng nghĩa trong một dân tộc Việt Nam vĩ đại không thể chia cắt. Do nhận thức sai lầm mà rất nhiều sử gia VN vẫn cho rằng An Dương Vương là người Trung Hoa, do đó mà vẫn né tránh nội dung và thế đứng hùng vĩ của văn minh Âu Lạc. Ngay cả Nguyễn Trãi mà còn sai lầm đến mức liệt Triệu Đà – Nam Việt của người Hán vào tiền triều Việt Sử … (*)
Có thể nào không có lý do lịch sử mà dòng họ Nguyễn Trãi phải nhận lãnh án tru di tam tộc ? Nhận định lịch sử sai lầm có phải là một trong những lý do đó hay không ?
3/. Quan hệ chính trị thời Lạc Việt không hề có ý nghĩa Quốc gia và chỉ là quan hệ cát cứ kiểu lãnh chúa mà không có tổ chức nhà nước. Lạc Vương thời Lạc Việt chỉ có ý nghĩa tượng trưng, thực chất đó là một lãnh chúa Lạc Việt có uy tín nhất (mà không phải là mạnh nhất), dàn hoà được các mối mâu thuẫn giữa các lãnh chúa, được tôn vinh như một biểu tượng tinh thần. Chỉ duy nhất Âu Lạc là quốc gia đầu tiên của người Việt.
4/. An Dương Vương học được kinh nghiệm tổ chức Nhà nước phong kiến từ người Thục nên tổ chức thành công một nhà nước Âu Lạc. Nhận thức được quan niệm “chân mạng đế vương” và lợi dụng nó để dựng một tổ quốc Âu Lạc chính danh, là công trạng to lớn nhất trong lịch sử VN.
5/. Văn minh Cổ Đại Việt Nam là văn minh Âu Lạc chứ không phải văn minh Lạc Việt như các sử liệu phổ thông vẫn nói.

=============================

Chú thích:
(*) Triệu Đà : Năm 210 tr.CN, Tần Thuỷ Hoàng chết, con là Tần Nhị Thế lên thay, đế chế Tần suy yếu dần. Những quận mới lập được ở phía Nam Trung Quốc, trên thực tế, thoát dần khỏi sự quản lý và kiểm soát của chính quyền nhà Tần. Lợi dụng cơ hội đó, Nhâm Ngao và Triệu Đà chiếm Nam Hải, xây dựng một Vương quốc riêng, chống lại nhà Tần.

Nhâm Ngao chết, Triệu Đà thay thế đã thực hiện mưu đồ cát cứ.

Triệu Đà người Hán, quê ở Hà Bắc-Trung Quốc. Sau khi Nhâm Ngao chết, Triệu Đà làm chủ Nam Hải, diệt các quan lại của nhà Tần để thay bằng những người thân cận.

Năm 206 tr.CN, nhà Tần đổ, Triệu Đà liền tiến quân đánh chiếm các quận Quế Lâm, Tượng Quận thành lập nước Nam Việt, tự xưng là Nam Việt Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung. Từ đó, nước Nam Việt của nhà Triệu chính thức ra đời.

Trong cuộc xâm lược đại quy mô của nhà Tần vào những năm 218-208 tr.CN, Triệu Đà đã từng có ý đồ thực hiện chính sách Hán hoá triệt để người Việt ở những vùng chúng đã chiếm. Y đã từng xin vua Tần Thuỷ Hoàng cho đưa 3 vạn đàn bà con gái không chồng xuống để “may vá áo quần” cho quân sĩ xây dựng cơ sở lâu dài. Y còn khuyến khích các tướng lĩnh, quan lại, quân lính người Hán lấy vợ người Việt, thúc đẩy quá trình Hán hoá ở đây.

Nước Nam Việt của Triệu Đà thực chất là nhà nước cát cứ của một tập đoàn tướng lĩnh, quan lại Hán tộc, không phải là nhà nước của người Việt. Nước Nam Việt của nhà Triệu gồm có 3 quận: Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận, là một nước mạnh, có đất đai rộng lớn (bao gồm vùng Quảng Đông, Quảng Tây- một phần Quý Châu ở phía Nam Trung Quốc), kinh tế trù phú, giao thông thuận lợi, lại nằm sát với nước Âu Lạc về phía Bắc nên có điều kiện xâm lược Âu Lạc. 
(theo:http://www.quehuong.org.vn/…/nr0505261019…/%20ns050526091345)
Cần chú ý rằng cuộc xâm lăng thành công bắt đầu bằng chiến tranh gián điệp của Triệu Đà đối với Âu Lạc đã mở đầu cho thời kỳ Bắc thuộc ngàn năm cay đắng của người Việt…
… quân Triệu đã nhiều lần tiến quân xâm lược Âu Lạc; có lần đã tiến xuống xâm phạm vùng Tiên Du (Bắc Ninh), Vũ Ninh (Quế Võ, Bắc Ninh), sông Bình Giang (sông Đuống). Nhiều trận chiến đấu lớn, ác liệt đã diễn ra ở vùng Tiên Du và vùng phụ cận Cổ Loa. Nhưng bấy giờ, Âu Lạc là một quốc gia hùng mạnh, có Liên Châu Nỗ lợi hại thần kỳ, có thành Cổ Loa kiên cố, dưới sự lãnh đạo của An Dương Vương và các tướng, nội bộ đoàn kết, nhân dân ủng hộ và quyết tâm chiến đấu đã đánh bại quân Triệu, bảo vệ độc lập, tự chủ.

Sau nhiều lần xâm lược vũ trang thất bại, Triệu Đà thay đổi thủ đoạn xâm lược, thực hiện mưu kế xảo quyệt, xin giảng hoà với Âu Lạc, cầu hôn Công chúa Mỵ Châu cho con trai mình là Trọng Thuỷ và xin cho Trọng Thuỷ được ở rể, để có cơ hội điều tra tình hình bố phòng và các bí mật quân sự của kinh thành Cổ Loa và nước Âu Lạc (mà chủ yếu là bí mật Liên Châu Nỗ.) Sống trên đất Cổ Loa, Trọng Thuỷ đã dùng tiền của mua chuộc các lạc hầu, lạc tướng, li gián nội bộ chính quyền Âu Lạc nhằm làm suy yếu khối đoàn kết, giảm ý chí chiến đấu và tinh thần cảnh giác của An Dương Vương.

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, Trọng Thuỷ xin An Dương Vương cho về thăm nhà, nhằm báo cáo kết quả do thám. Nắm chắc tình hình, Triệu Đà liền tổ chức cuộc tấn công xâm lược Âu Lạc, bất ngờ đánh thẳng vào Kinh đô Cổ Loa. An Dương Vương mất cảnh giác, bị động đối phó trong lúc nội bộ đã bị li gián. Cuộc kháng chiến thất bại nhanh chóng.
Năm 179 tr.CN, người Việt rơi vào ách đô hộ của nhà Triệu; mở đầu một thời kỳ đen tối, đầy đau thương và uất hận trong lịch sử nước ta, thường được gọi là thời Bắc thuộc, kéo dài từ 179 tr.CN đến năm 905
Cuộc khởi nghĩa của Khúc Thừa Dụ thắng lợi, lật đổ nền đô hộ của đế chế Đường, giành lại quyền độc lập, tự chủ của nhân dân ta, thời Bắc thuộc mới chấm dứt hoàn toàn.

Vũ Kim 
06 / 6 / 2015

LƯỢC SỬ CỔ ĐẠI VIỆT NAM – Phần 4

Phần IV : NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN

Sau thất bại của An Dương Vương (179 TCN), nhân dân Âu Lạc bị mất nước và bị chìm đắm trong đêm trường nô lệ vì bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Triệu Đà dùng mọi cách để xóa bỏ văn hóa Việt, Hán hóa mọi phong tục tập quán và nhân chủng Việt, nhưng người Việt đã rất cảnh giác và quật cường, lần lượt vượt qua các mưu đồ ấy.

Theo Tiền Hán thư, số đồ cống của Triệu Đà gửi dâng Hán Vũ Đế gồm có: một đôi ngọc bích trắng 1.000 con chim thuý (chim bói cá lông đẹp), 10 sừng tê 500 viên ngọc bối tía, một lọ quế đố (cà cuống), 40 đôi chim thuý sống, hai đôi chim công. . . Các đồ cống đó là do nhà Triệu vơ vét được ở Âu Lạc. Ngoài ra, dân Âu Lạc còn phải cung đốn lương thực cho bọn quan lại và binh lính nhà Triệu đóng trên lãnh thổ Âu Lạc và tham gia sửa đắp thành luỹ, xây dựng nhà cửa cho bọn quan lại đô hộ ở các trung tâm cai trị. Sự áp bức, bóc lột đó càng thúc đẩy chiến tranh khởi nghĩa giành quyền tự chủ của người Việt.

1/. Khởi nghĩa Tây Vu Vương (năm 111 TCN) :
Đây là cuộc nổi dậy đầu tiên của nhân dân ta chống Bắc thuộc mà sử cũ còn ghi lại. Đó là cuộc khởi nghĩa của một bộ phận người Âu Lạc, dưới quyền lãnh đạo của một dòng họ quý tộc Âu Lạc nhằm khôi phục lại quyền độc lập cho đất nước.

Bấy giờ, quân Hán đánh chiếm Phiên Nhung, hạ đô thành Nam Việt (Quảng châu), nội bộ Nam Việt bị phân hoá chia rẽ, bọn quan lại Nam Việt nhiều người đầu hàng nhà Hán. Chớp thời cơ đó, Tây Vu Vương (thủ lĩnh Tây Vu – Cổ Loa) đã thống suất dân chúng nổi dậy khởi nghĩa chống bọn sứ giả nhà Triệu. Cuộc khởi nghĩa tuy bị thất bại, Tây Vu Vương bị giết, nhưng nó đã mở ra một trang sử mới về tinh thần chống đô hộ của nhân dân ta.

2/. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 – 43) :
Từ khi nhà Hán đặt ách thống trị lên miền đất Âu Lạc, mức độ bóc lột và đồng hoá của bè lũ quan lại ngoại bang càng trở lên khốc liệt. Phong trào chống đô hộ của nhân dân ta trong buổi đầu công nguyên đã nổi dậy mà đỉnh cao nhất, chói lọi ngàn thu là cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở đất Lĩnh Nam.

Cuộc nổi dậy oanh liệt ấy là một hiện tượng hiếm có trong lịch sử thế giới cổ đại, nó như một tia lửa nhen lên tinh thần yêu nước Việt Nam, tinh thần vùng lên khởi nghĩa, coi độc lập dân tộc là cái quý giá nhất: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố và sáu mươi lăm thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng. . . “ (Lê Văn Hưu).

Hai Bà Trưng cùng quân đội của mình đã phải tiến hành cuộc kháng chiến chống lại cuộc tiến công xâm lược tàn bạo của nhà Đông Hán trong suốt ba năm liền cho đến khi thất bại, hi sinh trên dòng sông Hát.

3/. Các cuộc khởi nghĩa tiếp nối :
Hết thế kỷ này sang thế kỷ khác, phong trào khởi nghĩa giành độc lập tự chủ của nhân dân ta diễn ra sôi sục, mãnh liệt với hàng chục cuộc khởi nghĩa lớn, nhỏ bùng nổ trên khắp các địa phương. Tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo của Chu Đạt ở các quận Cửu Chân và Nhật Nam những năm 157-160; của Lương Long ở nhiều quận, huyện từ Giao Chỉ cho tới Nhật Nam những năm 178- 181 ; của Bà Triệu ở Cửu Chân rồi lan rộng ra Giao Chỉ năm 248, khiến “Cả Giao châu đều chấn động”; khởi nghĩa của Lý Trường Nhân, Lý Thúc Hiến với việc giành lại được quyền tự chủ trong một thời gian (468-485).

Bước sang thế kỷ VI, phong trào giải phóng của nhân dân ta chuyển lên giai đoạn phát triển mới mà đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa thành công dưới sự lãnh đạo của Lý Bí (542-543) đưa đến việc thành lập nhà nước Vạn Xuân (544). Nhà nước Vạn Xuân vừa được thiết lập, chỉ được hưởng thái bình trong hơn một năm thì đã bị quân Lương tiến công xâm lược. Nhân dân Vạn Xuân dưới sự lãnh đạo của Lý Nam Đế và Triệu Quang Phục đã anh dũng tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ giữ nước. Trải qua sáu năm kháng chiến, quân, dân Vạn Xuân chiến đấu anh dũng, kiên cường và giành được thắng lợi.

Từ thế kỷ VII, dưới ách cai trị bạo ngược của phong kiến nhà Tuỳ, rồi sau đó là của bọn phong kiến nhà Đường, các tầng lớp nhân dân, thế hệ nọ nối tiếp thế hệ kia, liên tục vùng lên đánh giặc. Cuộc khởi nghĩa này bị dìm trong máu lửa thì cuộc khởi nghĩa khác lại dâng lên.

Điều đáng lưu ý nhất là các cuộc nổi dậy đó chủ yếu không phải là nổi dậy của dân cày chống bọn điền chủ vì sưu cao thuế nặng, mà chủ yếu là nổi dậy của dân tộc Việt Nam chống đô hộ, giành độc lập tự chủ.

Ách đô hộ nhà Đường thường bị rung chuyển bởi những đòn công phá của phong trào cứu nước của nhân dân ta, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa có quy mô lớn của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến năm 687, của Mai Thúc Loan năm 722, của Phùng Hưng những năm 766-779 và của Dương Thanh những năm 819-820. Trong số những cuộc nổi dậy mạnh mẽ đó cũng có những cuộc khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh giải phóng, như khởi nghĩa Mai Thúc Loan (Mai Hắc Đế).

Từ căn cứ Vạn An (Nghệ An), nghĩa quân Mai Thúc Loan đã liên kết với nhiều lực lượng chống nhà Đường, tiến ra bắc, tiến công phủ thành Tống Bình. Bè lũ đô hộ Quang Sở Khách, trước khí thế ngút trời của cuộc chiến tranh giải phóng của người Việt đã bỏ thành, chạy tháo thân về nước.

Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa không duy trì được lâu bởi ngay sau đó vua Đường đã cử danh tướng Dương Tư Húc dẫn 10 vạn quân sang đàn áp. Tuy vậy, cuộc khởi nghĩa với hình thức đấu tranh mạnh mẽ, rộng lớn đó đã cổ vũ nhân dân ta tiếp tục đứng lên đánh đuổi quân xâm lược.

4/. Khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ (905 – 908)
Đầu thế kỷ X, xuất hiện một hình thức khởi nghĩa mới của Khúc Thừa Dụ. Bấy giờ, triều đình nhà Đường ở Trường An và chính quyền đô hộ ở miền đất nước ta suy yếu; cuộc đấu tranh đòi độc lập của nhân dân ta lan rộng và dâng cao, bọn quan lại đô hộ bất lực. Khúc Thừa Dụ, hào trưởng có uy tín ở Hồng châu nhân thời thế, tổ chức quân sĩ, thu phục lòng người và khi thời cơ đến đã lãnh đạo nhân dân đứng lên chống bọn đô hộ, giành được chính quyền rồi tự xưng là tiết độ sứ.

Nhà Đường buộc phải chấp thuận sự việc đã rồi, công nhận Khúc Thừa Dụ là Tĩnh Hải quân tiết độ sứ, đại diện của triều đình Trường An tại An Nam. Về danh nghĩa thì như vậy, nhưng thực chất họ Khúc đã xây dựng một chính quyền tự chủ. Tuy chính quyền vẫn còn mang danh hiệu của nhà Đường, nhưng về thực chất, Khúc Thừa Dụ đã xây dựng một chính quyền tự chủ, về cơ bản kết thúc ách thống trị hơn 1.000 năm của phong kiến phương Bắc. Lịch sử ghi nhận công lao của ông như là người đầu tiên đặt cơ sở lấy lại nền độc lập dân tộc

Cánh ứng xử của họ Khúc quả là độc đáo mở đầu cho một truyền thống khôn khéo, mềm mỏng trong thế ứng xử đối ngoại với phong kiến phương Bắc, nhằm đạt mục đích là giành và giữ nền độc lập dân tộc. Ở cạnh kề một nước lớn, từ sớm tổ tiên ta đã tỏ ra biết ứng xử linh hoạt để tồn tại và phát triển. Nhún nhường không phải lúc nào cũng biểu hiện yếu kém. Nhân nhượng để tránh tổn thất vô ích mà lại đạt mục tiêu. Độc lập tự chủ là mục tiêu lớn nhất của cả dân tộc ta thời đó.

Chính quyền tự chủ của họ Khúc được xây dựng năm 905 và tồn tại trong 26 năm thì các năm 931 và 938, nhà Nam Hán liên tục hai lần đưa quân xâm lược.

5/. Triều đại Ngô Quyền (939 – 944) :
Ngô Quyền (898 – 944), còn được biết đến với tên gọi Tiền Ngô Vương, là vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. Năm 938, ông là người lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng hiển hách, chính thức kết thúc hơn một thiên niên kỉ Bắc thuộc, mở ra một thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam. Sau chiến thắng này, ông lên ngôi vua, trị vì từ năm 939 đến năm 944.

6/. Nhà Đinh (968 – 979) :
Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, Đại Việt sử ký toàn thư chép sự kiện: “Bầy tôi dâng tôn hiệu là Đại Thắng Minh Hoàng Đế” và “Vua mở nước, lập đô (tại Hoa Lư), đổi xưng Hoàng đế”. Đinh Tiên Hoàng là người xưng hoàng đế đầu tiên ở Việt Nam.
Nhận xét về Đinh Tiên Hoàng đế, sử gia Lê Văn Hưu cho rằng có lẽ ý Trời vì nước Việt ta mà sinh bậc thánh triết, Lê Tung cho rằng vua chính thống của nước Việt ta, thực bắt đầu từ đấy.

7/. NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN
Trong cái ngạo thế hào hùng của đất Việt giờ đây đã hùng cứ một phương, sánh ngang vai cùng kẻ địch truyền đời phương Bắc, nhân dân Việt đã hào hứng dựng chùa NHẤT TRỤ với nghĩa NHẤT TRỤ KÌNH THIÊN (một cột chống trời / chỉ thiên quốc – kẻ đại địch phương Bắc) tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình ngày nay). Ngôi chùa Nhất Trụ mà con gái vua Đinh Tiên Hoàng tu hành, có một cây cột đá cao, tám cạnh, khắc bài kinh Lăng Nghiêm, đề niên hiệu thời Lê Hoàn (981–1005)

Kiến trúc chùa một cột này là hình thái kiến trúc thuần Việt hết sức độc đáo, chưa từng có bất cứ đâu trên đất Trung Hoa, nêu rõ cái khí thế ngạo nghễ của một dân tộc sẵn sàng đương đầu, không e sợ bất cứ thế lực ngoại bang nào xâm lấn, một bản sắc đủ sức trường tồn, không bị đồng hóa và không lẫn vào văn hóa Trung Hoa. Điều đó được minh chứng trong lịch sử nghìn năm kéo dài đến ngày nay.

Vũ Kim. 07 / 6 / 2015
(có tham khảo vnmilitaryhistory, Wikipedia và vietnam.vnanet)
(Xem tiếp : PHẦN V : Lịch sử Việt Nam cận đại và hiện đại).

VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM Ở NAM BỘ VIỆT NAM

Cách đây vài hôm, nói chuyện khoa học với vài bạn (nhỏ tuổi nhưng cũng không còn quá trẻ) có đề cập đến Vương Quốc cổ Phù Nam, từng là tồn tại rực rỡ ở Nam bộ Việt Nam. Tuy nhiên các bạn trẻ đều ngạc nhiên, nhiều người còn cho biết là chưa từng được nghe, hay học hỏi gì về Phù Nam cả.
—–*—–*—–*—–
VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM (tiếng Khmer: Phnom) là một quốc gia cổ trong lịch sử Đông Nam Á, xuất hiện khoảng đầu Công Nguyên, ở khu vực hạ lưu và châu thổ sông Mê Kông. Trong thời kỳ hưng thịnh, vương quốc Phù Nam, về phía Đông kiểm soát cả vùng đất phía Nam Trung Bộ Việt Nam, về phía Tây đến Thung lũng sông Mê Nam (Thái Lan), về phía Nam đến phần phía Bắc bán đảo Mã Lai.
Vương Quốc Phù Nam tồn tại cho đếnsau năm 627 thì bị sáp nhập vào lãnh thổ của Chân Lạp (*). Mãi đến thế kỷ XVII – XVIII, phần đất cũ là trung tâm của Phù Nam, tách khỏi Chân Lạp để trở thành Nam Bộ Việt Nam ngày nay (**). Phần đất phiên thuộc kém quan trọng hơn trở thành Vương Quốc Khmer (***) hay là Kampuchia ngày nay.
————————
Chú dẫn :
(*) Chân Lạp (tiếng Khmer: Chên-la) là nhà nước đầu tiên của người Khmer tồn tại trong giai đoạn từ khoảng năm 550 tới năm 802 trên phần phía nam của bán đảo Đông Dương gồm cả Campuchia và một số tỉnh phía Nam của Việt Nam hiện đại. Các vương quốc láng giềng xung quanh Chân Lạp vào thời kỳ ban đầu là Chăm Pa ở phía đông, Phù Nam ở phía nam và Dvaravati (thuộc Thái Lan ngày nay) phía tây bắc.
Triều đại các vị vua của Chân Lạp theo truyền thuyết có nguồn gốc từ nhân vật thần thoại Campu, lấy nàng Naga (con gái thần nước, biến từ rắn thành thiếu nữ). Từ “campu” cũng bắt nguồn cho tên gọi của Campuchia sau này.
Chân Lạp ban đầu là một nhà nước chư hầu của Phù Nam (cho tới năm 550), trong vòng 60 năm sau đó nhà nước này đã giành được độc lập và dần dần lấn lướt Phù Nam. Đến thế kỷ 6 thì họ đã xâm chiếm được miền bắc của Phù Nam. Cuối cùng, trong thế kỷ 7 (khoảng giai đoạn 612-628), nhà nước này đã xâm chiếm toàn bộ Phù Nam, chiếm toàn bộ dân cư của nhà nước đó nhưng lại bị văn hóa bản địa mạnh mẽ của Phù Nam đồng hóa. Năm 613, Ishanapura trở thành kinh đô đầu tiên của Chân Lạp.
(**) Nam Bộ Việt Nam : Hành trình Nam tiến kéo dài 700 năm, mở rộng diện tích lãnh thổ nhỏ bé ở Bắc Bộ Việt Nam so với ban đầu độc lập tăng lên 3 lần, từ thế kỷ 11 đến giữa thế kỷ 18 lãnh thổ Việt Nam về cơ bản được hình thành và tồn tại như hiện nay, trên cơ sở vùng lãnh thổ mà gọi là Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ của một đất nước không – chia – cắt.
(***) Vương Quốc Khmer, tách ra từ Vương quốc Chân Lạp, đã từng cai trị và có phần đất phiên thuộc mà ngày nay thuộc một phần lãnh thổ của các quốc gia: Lào, Thái Lan và miền nam Việt Nam (diện tích lên đến 1 triệu km², gấp 3 lần Việt Nam hiện nay) đóng chủ yếu trên phần lãnh thổ hiện nay thuộc Campuchia.

SIÊU ÂM NỘI SOI CAN THIỆP

I/. Sơ lược về siêu âm và máy siêu âm

1/. Siêu âm
Siêu âm là một loại dao động cơ học được truyền đi trong một môi trường vật chất nhất định.Năng lượng cơ học này tác động vào các phân tử vật chất của môi trường làm cho chúng dao động khỏi vị trí cân bằng, mặt khác do tương tác mà các phân tử bên cạnh nó cũng chụi ảnh hưởng và dao động theo, tạo thành sóng lan truyền cho tới khi hết năng lượng. chính vì vậy siêu âm không thể truyền ở môi trường chân không như các sóng điện từ.
Âm thanh được chia thành 3 loại dựa theo tần số. Những âm thanh có tần số duới 16 Hz mà tai người không thể nghe được là hạ âm. Các sóng âm có dải tần từ 16 Hz đến 20.000 Hz được gọi là âm thanh, còn siêu âm có tần số trên 20.000 Hz. Như vậy về bản chất siêu âm cũng không có gì khác với các dao động cơ học khác và nó cũng được đặc trưng bởi một số đại lượng vật lý như: tần số, biên độ , chu kỳ… 
– Chu kỳ là khoảng thời gian thực hiện một nén và dãn. Đơn vị th¬ường được tính bằng đơn vị đo thời gian( s, ms…) 
– Biên độ là khoảng cách lớn nhất giữa 2 đỉnh cao nhất và thấp nhất.
– Tần số ( f ) là số chu kỳ giao động trong 1 giây, đơn vị đo là Hz 
– Bước sóng(λ) là độ dài của 1 chu kỳ giao động. Bước sóng th¬ường được đo bằng đơn vị đo chiều dài như mm, cm
– Tốc độ siêu âm ( c ) là quãng đường mà chùm tia siêu âm đi được trong 1 đơn vị thời gian, th¬ường được đo bằng m/s.
– Năng lượng siêu âm ( P ) biểu thị mức năng l¬ượng mà chùm tia siêu âm truyền vào cơ thể. Giá trị này phụ thuộc vào nguồn phát , trong siêu âm chẩn đoán để đảm bảo an toàn các máy thường phát với mức năng lượng thấp vào khoảng 1mw đến 10mw. Tuy nhiên trong các kiểu siêu âm thì siêu âm Doppler thường có mức năng lượng cao hơn. ở các máy siêu âm hiện đại người sử dụng có thể chủ động thay đổi mức phát năng lượng để nâng cao hơn tính an toàn cho bệnh nhân, nhất là đối với thai nhi và trẻ em.
– Cường độ sóng âm là mức năng lượng do sóng âm tạo nên trên 1 đơn vị diện tích. Thường được đo bằng đơn vị W/cm2. Cường độ sóng âm sẽ suy giảm dần trên đường truyền nhưng tần số của nó không thay đổi. Người ta còn tính cường độ sóng âm tương đối đo bằng dB. Khác với cường độ sóng âm, đại lượng này là một giá trị tương đối, nó cho biết sự khác nhau về cường độ siêu âm tại 2 vị trí trong không gian.

2. Quá trình lan truyền sóng âm trong cơ thể 
Chùm tia siêu âm đi qua tổ chức xương và mô mềm có 43% năng lượng bị phản xạ trở lại và chỉ có 57% năng lượng tiếp tục đi qua. Tương tự như vậy nếu bề mặt phân cách là không khí và mô mềm thì R= 0,998, hay hệ số truyền âm chỉ còn 1- 0,998 = 0,002 hay =0,2%. Do đó khi thực hành chúng ta phải tạo môi trường chất lỏng ( gel siêu âm ) giữa đầu dò và cơ thể để chùm tia siêu âm có thể xuyên vào trong cơ thể, mà không bị phản xạ trở lại.
Trong môi trường có cấu trúc đồng nhất, sóng âm lan truyền theo đường thẳng, và bị mất năng lượng dần gọi là suy giảm. Sự suy giảm theo luật nghịch đạo của bình phương khoảng cách. Sự hấp thu quan trọng của năng lượng âm gặp vật chất tạo nhiệt. Tuy nhiên sự mất năng lượng trong siêu âm không giống bức xạ tia X, vì ở đây còn có hiệu ứng quang từ hoặc hiệu ứng Compton. Vận tốc truyền sóng âm phụ thuộc vào độ cứng và tỷ trọng của môi trường vật chất xuyên qua, trong cơ thể người: mỡ 1450; nước 1480; mô mềm 1540; xương 4100 m/s.

3/. Máy siêu âm chẩn đoán :
– Phát sóng âm: Sóng âm được tạo ra do chuyển đổi năng lượng từ điện thành các sóng xung tương tự như phát xạ tia X, phát ra từ các đầu dò, có cấu trúc cơ bản là gốm áp điện (piezo-electric).
Sóng phản hồi sẽ thu nhận bởi đầu dò, sau đó được xử lý trong máy và truyền ảnh lên màn hình (display), hoặc ghi lại trên phim, giấy in hoặc trên băng đĩa từ. Tất nhiên các sóng phản hồi không được thu nhận bởi đầu dò sẽ bị biến mất theo luật suy giảm.
– Đầu dò (Transducer – Probe): làm nhiệm vụ vừa phát vừa thu sóng âm phản hồi.
Tùy theo máy và hãng sản xuất, các đầu dò quét được nhờ một hệ thống cơ khí hay điện tử, với chùm thăm dò theo hình chữ nhật hay rẽ quạt.

II/. Tính năng tác dụng , hình thái , kích thước đầu dò siêu âm ổ bụng
Đầu dò siêu âm ổ bụng phổ biến nhất là đầu dò quét điện tử cầm tay. Các tinh thể gốm áp điện được xếp thành một dãy theo chiều ngang (tuyến tính), được mở ra một cửa sổ (aperture) tương đối lớn do số lượng tinh thể từ 4 đến 10, chùm sóng âm khi phát ra khá rộng. Các đầu dò siêu âm hiện đại còn dùng Piezo polimer với cộng hưởng đa tần.
Đầu dò thường có kích thước 75 x 17 với mặt cong lồi R150.

III/. Dụng cụ nguyên bản
Đầu dò siêu âm ổ bụng chứa nhiều miếng gốm áp điện (piezo-eletric), khi có dòng điện xoay chiều tần số cao khích thích vào miếng gốm này làm cho nó co giãn và phát ra xung siêu âm, ngược lại khi miếng áp điện rung lên do sóng siêu âm dội trở về sẽ tạo ra một xung động (tính thuận nghịch). Sóng siêu âm lan truyền vào các mô trong cơ thể, gặp các mặt phẳng sẽ tạo ra các sóng âm dội trở về (echo). Mỗi âm dội mà đầu dò thu nhận được sẽ chuyển thành tín hiệu điện, từ tín hiệu này sẽ được chuyển thành tín hiệu trên màn hình, và tất cả chùm sóng âm quét tạo nên hình ảnh siêu âm của ổ bụng.
Sử dụng trong chuyên môn tiết niệu, siêu âm cho phép thăm dò chẩn đoán từ thận đến bàng quang và các nội mô có liên quan.

IV/. Dụng cụ siêu âm nội soi can thiệp
1/. Nguyên tắc :
Dựa trên lâm sàng thăm dò ổ bụng, hình ảnh đã qua máy tính xử lý cho phép xác định các nội mô, nội tạng cần can thiệp hóa sinh. Do đó chúng ta có thể đưa dịch sinh lý, thuốc điều trị dạng lỏng vào, làm sinh thiết v.v… một cách trực tiếp trên nội mô, nội tạng đó. Hiệu quả can thiệp dựa vào siêu âm lâm sàng sẽ tương tự như các phương tiện nội soi khác nhưng giản đơn, trực quan hơn nhiều.
2/. Ứng dụng :
Dụng cụ ghép một ống dẫn hướng với đầu dò siêu âm cho phép đưa mũi tiêm đến nội mô, nội tạng một cách chính xác với sự hỗ trợ của hình ảnh siêu âm. Các thao tác tiếp theo sẽ đem lại các hiệu quả y khoa cần thiết.

V/. Quá trình gia công : các công đoạn , các loại máy để gia công
1/. Vật liệu : Thép mạ Crôm 100 um theo đúng tiêu chuẩn y tế.
2/. Gia công :
– Ốp thân + ốp hông : máy đột – dập.
– Định vị + bộ ghép nối : máy tiện + hàn.
– Mạ Crom : máy mạ CrO3

VI/. Thử nghiệm trên máy siêu âm Dữ liệu 120 trang A4, không đưa lên Facebook được)

VII/. Những sai lệch có thể xảy ra khi thử
Nếu liên kết các chi tiết không đúng sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng thu phát siêu âm, làm lệch hướng các chùm siêu âm phản xạ. Điều này làm cho người thao tác siêu âm nội soi không đưa ống dẫn hướng đến chính xác nơi cần can thiệp.
VIII/. Cách khử sai.
1/. Ghép nối ốp hông chính xác, siết chặt ốc định vị vừa phải để không ảnh hưởng đến cấu trúc đầu dò (biến dạng, nứt vỡ v.v…)
2/. Chỉnh lý bộ ghép nối liên kết ống dẫn hướng với ốp hông, khử bớt độ “rơ” cơ khí.
3/. Vệ sinh kỹ khu vực liên kết khớp nối, tránh tàn dư của dịch, chất nhầy …, cặn đóng gây khó khăn cho thao tác nội soi can thiệp. Ngoài ra, ống dẫn hướng sẽ xuyên qua ổ bụng bệnh nhân nên cần làm sạch, vô trùng đến mức độ cần thiết.

Vũ Kim 2012

NGUYÊN TỬ NĂNG VÔ TẬN.

Năng lượng nguyên tử có nhiều nhánh khai thác, trong đó được nhiều người biết đến là 1/. Năng lượng nguyên tử từ phản ứng phân rã hạt nhân thành neutron và các nguyên tử nhỏ hơn (Phân Hạch) và 2/. Năng lượng nguyên tử từ phản ứng tổng hợp hạt nhân (Hợp Hạch). 
– Năng lượng nguyên tử từ phản ứng phân rã hạt nhân, ngoài chi phí đắt đỏ thì nó dễ thiết lập (lò phản ứng nguyên tử phân rã hạt nhân) và dễ khống chế bằng các thanh than chì hay (và) các thanh hợp kim Cadmium cùng với một hệ thống nâng / hạ cơ học giản đơn. Nhưng nó có nhược điểm “chết người” là để lại chất thải hạt nhân và nguy cơ phát tán phóng xạ, cả hai đều cực kỳ độc hại cho con người và tàn phá sinh quyển.
– Năng lượng nguyên tử từ phản ứng tổng hợp hạt nhân có suất năng lượng gấp hàng vạn lần so với năng lượng nguyên tử từ phản ứng phân rã hạt nhân, lại không tạo ra chất thải phóng xạ. Trên quan điểm an toàn sinh học thì rõ ràng năng lượng nguyên tử từ phản ứng tổng hợp hạt nhân là rất sạch, và có thể nói việc khai thác năng lượng nguyên tử từ phản ứng tổng hợp hạt nhân là tương lai của thế giới.
Tuy nhiên việc tạo lập, duy trì, khống chế và điều tiết phản ứng tổng hợp hạt nhân là vấn đề kỹ thuật nan giải mà gần 100 năm nay, nhân loại chưa thể làm được. Vì phản ứng tổng hợp hạt nhân chỉ diễn ra được dưới nhiệt độ hàng trăm triệu độ (điều kiện để kích hoạt phản ứng tổng hợp hạt nhân hydro thành heli và giải phóng năng lượng) mà không một vật liệu cách nhiệt nào chịu nổi. Và giải pháp duy nhất được biết đến, là cách ly phản ứng đó với máy móc phục vụ duy trì, khống chế và điều tiết phản ứng tổng hợp hạt nhân bằng một từ trường siêu việt, có độ chính xác với yêu cầu rất khắc nghiệt của tương tác cơ học siêu vi mô cấp độ nguyên tử. 100 triệu độ C là nhiệt độ cao gấp 7 lần nhiệt độ tại lõi Mặt Trời, cần phải được duy trì trong một “bình từ tính” có hình dạng giống bánh vòng doughnut trong thời gian đủ lâu để phản ứng nhiệt hạch xảy ra.
Một lần nữa, người Đức lại lên tiếng với thế giới khi tạo ra được từ trường siêu việt đó.

THUYẾT TIẾN HÓA hiện đại và THUYẾT DARWIN

Người ta thường đánh đồng giữa THUYẾT TIẾN HÓA hiện đại và THUYẾT DARWIN, dù hai thứ đó không phải là một. Sự ngộ nhận này đưa đến những phán đoán cho rằng thuyết Darwin là sai, dựa trên những “bất ngờ” khảo cổ cho thấy con người đã có từ trước mốc thời gian hơn 200.000 năm xuất hiện loài người hiện tại, đại biểu là Lucy, người mẹ duy nhất của nhân loại hiện nay (di chỉ khảo cổ tìm thấy vào năm 1974 gần làng Hadar trong thung lũng Awash phía bắc Ethiopia, Đông Phi).

Thực ra, theo thuyết tiến hóa hiện đại thì nhân loại đã xuất hiện trên trái đất hơn 2 tỷ năm. Họ phát triển nhanh đến một mức độ văn minh thì bị tận diệt do “một nguyên nhân nào đó” rồi tái phát triển từ con số không, đến khi một chủng loài người mới xuất hiện. Theo thuyết tiến hóa hiện đại thì những chủng loài viễn cổ này đã từ tiến đến cấp độ văn minh sử dụng được năng lượng nguyên tử (thậm chí các siêu năng lượng khác như năng lượng phản hạt, năng lượng chân không lượng tử, thậm chí năng lượng tối …), rồi phát động chiến tranh “không kiểm soát được” và tự phá hoại sinh quyển, đưa đến diệt vong toàn cầu.

Và đã có đến 6 lần nhân loại phát triển rồi diệt vong như vậy, hình dạng của nhân loại trong các thời kỳ có sự tương đồng nhưng cũng dị biệt lớn về cấu trúc nhân thể học. Trái đất trống trơn không một bóng người trước khi xuất hiện Lucy thần thánh, Mẹ vĩ đại của nhân loại. Nói khác đi, chúng ta là nhân loại phát triển lên từ khời phát nhân giới của lần thứ 7, với đại diện Lucy thoát sinh từ vượn người. Sáu lần phát sinh – phát triển và diệt vong nhân giới trước đó do nguyên nhân thiên tai toàn cầu và cả tự diệt vong do chiến tranh nguyên tử, chiến tranh siêu năng lượng. Theo một số phát biểu chưa được kiểm chứng mang dáng dấp “thuyết âm mưu” thì đã có một (vài) thời kỳ phát triển đến kỹ thuật – khoa học vũ trụ liên hành tinh – liên thiên hà, một số nhóm đã lên tàu vũ trụ đi đến các vì sao xa xăm sinh sống khi chiến tranh diệt vong toàn cầu sắp nổ ra, và bây giờ họ trở lại thăm “chốn cũ” và được gọi là “người ngoài hành tinh” (Alliens). Một số chủng tử đi vào vũ trụ song song (rất gần chúng ta trong gang tấc nhưng chúng ta chưa đủ khoa học kỹ thuật để đến chỗ của họ) và con cháu hàng triệu năm sau của họ quay về xem “đồng loại kém tiến hóa” là chúng ta. với hình ảnh người ngoài hành tinh.

Nói như vậy, có nghĩa là thuyết Darwin (và do đó, thuyết Tiến Hóa) không hề sai, vì Darwin chỉ nói đến nhân loại của lần thoát sinh thứ 7. Do đó cần có bằng chứng rằng nhân loại hiện đại phát sinh – phát triển từ một cặp bố mẹ duy nhất.
Bài dưới đây cung cấp cho chúng ta chứng cứ cần thiết đó từ nghiên cứu ADN ti thể của Stoeckle và Thaler ở Đại học Rockefeller và Đại học Basel.

LƯỢC SỬ CỔ ĐẠI VIỆT NAM – Phần 1

Phần I : LỊCH SỬ VÀ SỬ HỌC VIỆT NAM

. . . . . . ..- Một phần của bài này đã được tác giả trình bày tại CLB

. . . . . . . . . . .VHNT Quận 4, TP HCM, tháng 9 năm 2001.

. . . . . . . .- Đã đăng trên báo Ethologist, Pháp.

Dựa vào truyền thuyết, truyện huyền ảo hay thần thoại mà dựng sử, gọi là huyền sử. Dựa vào những thêu dệt, thậm chí phóng đại để dựng sử, gọi là dã sử. Dựa vào quan điểm của chế độ cai trị, chính trị đương thời thì goi là chính sử. v.v… Các loại sử liệu như thế thường có độ tin cậy rất hạn chế, thậm chí còn đi ngược lại thực chứng khoa học … Thế mà nó vẫn được dùng rất phổ biến ở nước ta và một số nước chưa phát triển khác. Tầm ứng dụng của các loại sử này rất lớn, thậm chí được dùng làm tài liệu giảng dạy và học tập chính thức, gây ra bức tranh sai lệch về lịch sử và đánh giá sai từ bạn bè năm Châu.

Một học giả nước ngoài đã hỏi Vũ Kim : “Người Việt hiện đại và thông minh của các anh vẫn còn tin chuyện đẻ ra một bọc trăm trứng, nở ra trăm con hay sao ?” Techno : “Đó là truyền thuyết, nó được sáng tác để giải thích chứ không có mục tiêu phổ hiện sự thật, giống như tín đồ Công giáo tin vào Đức Mẹ Đồng trinh đó thôi”. Anh ta : “Nhưng đây không phải là đức tin, mà lại là tài liệu giảng dạy chính thức cho cả nước các anh kia mà”.

Đến đây thì Vũ Kim đành … đánh trống lảng …

Xin lật lại vấn đề một chút : chúng ta dùng từ “lịch sử” đã nhiều, nhưng bản than từ lịch sử thì ít ai muốn động tới. Nói khác đi, bản chất ngữ nghĩa của từ lịch sử chúng ta thường né tránh, đơn giản là do chúng ta … không biết nó là gì, hoặc là chỉ biết một cách mơ hồ, không đủ để phát biểu. Ngay cả trong wikipedia tiếng Việt, trích dẫn cả Bách Khoa toàn thư cũng chỉ mơ hồ:

Lịch sử là môn học về nghiên cứu và phân tích những sự kiện đã xảy ra. Trong thực tế, chỉ có một số sự kiện lịch sử được xem là “thật”. Đa số các nhà nghiên cứu các tường thuật lịch sử này, hay sử gia, tin rằng quan điểm hiện tại của chúng ta có thể đổi cách hiểu những sự kiện xưa. Vì thế cách giải thích những sự kiện xưa thay đổi thường xuyên qua các thời kỳ. Những giải thích dựa theo các nguồn gốc “căn bản” – những văn kiện được viết ra vào lúc đó hay gần sau lúc đó – thường được xem là có giá trị nhất.

http://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch_s%E1%BB%AD

NGỮ NGUYÊN CỦA TỪ LỊCH SỬ

Lịch, là diễn biến đã thật sự xảy ra trong không gian và thời gian, không chịu sự tác động của tri giác và nhận thức của con người. Sử là dấu vết của quá khứ còn lưu lại cho hiện tại và tương lai thông qua nhận thức có tính thời đại.

Chúng ta có thể tóm tắt ý nghĩa ngữ nguyên của từ lịch sử như sau :

1- Lịch sử là diễn tiến khách quan với mốc không gian và thời gian cụ thể của nó.

2- Diễn tiến lịch sử là nằm ngoài tác động của ý thức của con người.

3- Lịch sử được con người ghi nhận (thành văn hoặc không thành văn).

4- Lịch sử mang trong nó tri thức của thời đại.

Vì vậy, mà quan điểm và phương thức luận lịch sử hiện đại cần phải có những tiêu chí nào ?

1- Cần phải khách quan ở mức độ cao nhất có thể có để tránh sai lầm hay bóp méo sự thật một cách chủ quan trong nhận thực, ghi nhận và giảng dạy lịch sử.

2- Lịch sử mang hơi thở của thời đại, nên nó cần được liên tục nghiên cứu theo dữ liệu và phương pháp khoa học mà thời đại chúng ta đang có.

3- Trung thành với nhận thức và tư duy khoa học, tiếp cận sự thật lịch sử đã xảy ra trong quá khứ từ mọi hướng, bằng mọi biện pháp khoa học mà toàn cảnh khoa học – kỹ thuật đương đại cho phép, bổ sung thậm chí phủ định các ghi nhận trước đó về lịch sử khi cần thiết.

Chúng ta quay lại với LỊCH SỬ CỔ ĐẠI VIỆT NAM

Thời kỳ Hồng Bàng theo truyền thuyết và dã sử cho rằng bắt đầu từ năm 2879 TCN, là niên đại vua Kinh Dương Vương, với quốc hiệu Xích Quỷ. Địa bàn của quốc gia dưới thời vua Kinh Dương rất rộng lớn : phía bắc tới sông Dương Tử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải (một phần của Thái Bình Dương), phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Quốc ngày nay).

TRUYỀN THUYẾT

Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, đi tuần thú phương nam đến núi Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau sinh ra Lộc Tục. Đế Minh truyền ngôi lại cho con là Đế Nghi làm vua phương bắc, và phong cho Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ. Con của Kinh Dương Vương với Long nữ là Sùng Lãm lấy hiệu là Lạc Long Quân nối ngôi, lấy tiên nữ Âu Cơ là con gái của vua Đế Lai, đẻ ra một bọc 100 trứng và nở ra 100 người con. Những người con sinh ra cùng một bọc gọi là “cùng bọc” (hay còn gọi là Đồng bào) để nói rằng tất cả người Việt Nam đều cùng có chung một nguồn gốc… Con cả của thần Rồng Lạc Long Quân và tiên nữ Âu Cơ trị vì dưới tên Hùng Vương, và là vị vua đầu tiên của người Việt. Vì thế, người Việt thường tự xưng là con rồng cháu tiên. Từ đó người Việt đã di cư từ miền nam Trung Quốc hiện giờ đến đồng bằng sông Hồng và hòa nhập với người dân bản xứ. Vào năm 258 TCN An Dương Vương thành lập vương quốc Âu Lạc, tại miền Bắc Việt Nam bây giờ.

SỰ THẬT LỊCH SỬ

Cách đây hơn 4.800 năm, toàn bộ vùng nam bắc đại giang Dương Tử chưa hề có chế độ phong kiến, do đó cũng chẳng có nước, có vua nào hết. Thể chế xã hội lúc bấy giờ là cát cứ theo nhóm cộng đồng cư dân có cùng một phong tục, ngôn ngữ, cách sinh sống và làm lụng v.v…

Theo những kết quả khảo cổ học hiện đại, từ bà Mẹ vĩ đại của nhân loại hiện đại là LUCIA ở Đông Phi, cách nay 200.000 nghìn năm đã có số lượng đông đảo người hiện đại thuộc chủng Homo Sapien, di chuyển thành nhiều nhánh lan tỏa đi khắp thế giới để tạo nên xã hội và làn sóng di thực nguyên thủy. Một bộ phận băng qua đại dương bằng bè sậy đến Indonesia và Phillippine, một nhánh qua eo Malacca đổ vào Malaysia, tiến dần theo ven duyên hải Việt Nam tạo ra các tộc người Phù Nam, Champa và các bộ tộc Tây nguyên ngày nay, lên phía Bắc để tạo ra các bộ tộc thượng du Bắc bộ. Sau đó họ tiến thẳng đến khu vực bình nguyên Lĩnh Nam thuộc 6 tỉnh phía Nam Trung Hoa ngày nay và định cư ở lưu vực Dương Tử, chủ yếu sống bằng nghề chài lưới sông nước trên đại giang Dương Tử. Nhóm thị tộc Hán Việt tiếp tục đi lên phương Bắc xây dựng nên các triều đại nhà Hán rồi quay trở lại tìm cách tiêu diệt và bằng mọi cách xóa bỏ dấu tích Bách Việt của mình, tự xưng Thiên quốc và nô dịch hóa cũng như Hán hóa cộng đồng Bách Việt.

Nói rõ ra, chính người Việt mới là tổ tiên của người Trung Hoa chứ không phải ngược lại như lý luận của “nước lớn” Trung Hoa và sự theo đuôi của những con người có tư tưởng bị trị và hèn yếu mang tư tưởng Trần Ích Tắc của nước Việt ngày nay.

Khu vực đại giang Dương Tử lúc bấy giờ có nhiều nhóm cát cứ như vậy, và họ có các chỉ tiêu nhân trắc gần giống nhau, nói chung là Bách Việt, với nghĩa là một trăm bộ tộc Việt. Các sách xưa ghi chép nhiều nhóm người Việt, trong đó có Câu Ngô (句吳), Ư Việt (於越), Dương Việt (揚越), Mân Việt (閩越), Nam Việt (南越), Đông Việt (東越), Sơn Việt (山越), Lạc Việt (雒越, người Kinh ở Việt Nam ngày nay) Âu Việt (甌越, hay còn gọi là Tây Âu – 西甌) v.v… Sách Hán thư (漢書) viết: “Trong vòng bảy hoặc tám nghìn dặm từ Giao Chỉ tới Cối Kê (thuộc vùng Bắc Chiết Giang), ở đâu cũng có Bách Việt, mỗi nhóm có các thị tộc của mình…”.

Như vậy chúng ta có thể đính chính sai lầm nhận thức lịch sử quan trọng : đó là không có dân tộc Bách Việt mà chỉ có nhiều thị tộc (tộc người với các thể chế và quan hệ riêng có) Việt được gom chung thành một danh xưng xã hội là Bách Việt.

Theo tập quán kết giao để tránh chiến tranh, người xưa thường nhận các địch thủ có thế mạnh tiềm tàng làm con, hoặc gả con để kết thân. Ta có thể thấy rằng việc “vua lấy tiên nữ sinh con” là để giải thích việc nhận con nuôi một cách thánh hoá. Người Lạc Việt (*) sinh sống chủ yếu bằng nghề chài lưới trên các lưu vực đại giang, mạnh mẽ và nhiều tham vọng, dưới sự dẫn dắt của Sùng Lãm trẻ trung và hiếu chiến, buộc Lộc Tục phải nhận Sùng Lãm làm con nuôi, ban cho quyền hạn, hiệu là Lạc Long Quân, để tránh phải đối đầu.

Cách đây gần 3.000 năm, trận nhiệt hà dai dẳng và khắc nghiệt đã làm đại giang Dương Tử và các chi – phụ lưu của nó dần dần khô cạn. Các tộc người trong Bách Việt sinh sống bằng chài lưới và cả canh tác lúa nước đều khốn đốn, bắt buộc phải ra đi tìm đất sống. Lạc Long Quân với tư cách là đại thống lĩnh các tộc Việt phải dẫn trên dưới 100 bộ tướng chọn lọc trong Bách Việt (cùng quân lính và vợ con họ) tiến xuống phía nam trù phú.

Vượt qua rặng Hoàng Liên Sơn, tiến đến khu vực Piaya (Phi mã Yên Sơn) và Piaouac (Phi mã Ác Sơn) thì đoàn tinh binh của Lạc Long Quân chạm trán với lực lượng của Cửu Thiên Huyền Nữ và ác chiến nổ ra. Một bên là tinh binh hăm hở với áp lực tìm đất sống nếu không muốn diệt vong, một bên là bảo vệ chủ quyền và nguồn sống của cộng đồng các dân tộc thượng du Bắc Bộ, được đông đảo cư dân bản địa phục tòng và ủng hộ hết lòng . . .

Cửu Thiên Huyền Nữ là ai, cuộc ác chiến lịch sử diễn ra như thế nào, xin các bạn đón xem trong bài tiếp theo.

===============================

(*) Theo truyền thuyết của Việt Nam, tổ của người Lạc Việt bắt nguồn từ vùng Động Đình Hồ, nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, và địa bàn sinh sống lan rộng xuống tận vùng Bắc Trung Bộ của Việt Nam ngày nay. Sử sách của Việt Nam cũng chỉ trích dẫn từ các truyền thuyết này. Nguồn cổ sử duy nhất có nói đến Lạc Việt là một số rất ít các sách cổ của Trung Quốc, và các sách này cũng chỉ ghi lai rất ít thông tin.

Tài liệu cổ nhất viết về Lạc Việt là Giao Châu Ngoại Vực Ký (thế kỷ 4) viết như sau:

“Thời xưa khi Giao Chỉ chưa có quận huyện, thì đất đai có Lạc Điền, ruộng ấy là ruộng (cầy cấy) theo con nước thủy triều. Dân khai khẩn ruộng ấy mà ăn nên gọi là Lạc Dân. Có Lạc Vương, Lạc Hầu làm chủ các quận huyện. Ở huyện phần đông có Lạc Tướng. Lạc Tướng có ấn bằng đồng, (đeo) giải (vải mầu) xanh.

========================

CHÚ THÍCH :

(*) Danh sách 100 người con trai từ bọc trăm trứng theo thần phả :

Lân Lang làm vua

49 người con theo cha (Lạc Long Quân) là:

Xích Lang, Quynh Lang, Mật Lang, Thái Lang, Vĩ Lang, Huân Lang, Yên Lang, Tiên Lang, Diên Lang, Tích Lang, Tập Lang, Ngọ Lang, Cấp Lang, Tiếu Lang, Hộ Lang, Thục Lang, Khuyến Lang, Chiêm Lang, Vân Lang, Khương Lang, La Lang, Tuần Lang, Tân Lang, Quyền Lang, Đường Lang, Kiều Lang, Dũng Lang, Ac Lang, Tảo Lang, Liệt Lang, Ưu Lang, Nhiễu Lang, Lý Lang, Châm Lang, Tường Lang, Chóc Lang, Sáp Lang, Cốc Lang, Nhật Lang, Sái Lang, Chiêu Lang, Hoạt Lang, Điển Lang, Thành Lang, Thuận Lang, Tâm Lang, Thái Lang, Triệu Lang, Iích Lang.

50 người con trai theo mẹ (Âu Cơ) là:

Hương Lang, Kiểm Lang, Thần Lang, Văn Lang, Vũ Lang, Linh Lang, Hắc Lang, Thịnh Lang, Quân Lang, Kiêm Lang, Tế Lang, Mã Lang, Chiến Lang, Khang Lang, Chinh Lang, Đào Lang, Nguyên Lang, Phiên Lang, Xuyến Lang, Yến Lang, Thiếp Lang, Bảo Lang, Chừng Lang, Tài Lang, Triệu Lang, Cố Lang, Lưu Lang, Lô Lang, Quế Lang, Diêm Lang, Huyền Lang, Nhị Lang, Tào Lang, Ngyuệt Lang, Sâm Lang, Lâm Lang, Triều Lang, Quán Lang, Cánh Lang, Ôc Lang, Lôi Lang, Châu Lang, Việt Lang, Vệ Lang, Mãn Lang, Long Lang, Trình Lang, Tòng Lang, Tuấn Lang, Thanh Lang.

Trích theo

http://www.binhthuan.gov.vn/khtt/vanhoa/0005/0001/DTDH1.htm

Như trên đã phân tích, chúng ta thấy rõ ràng là người Việt chúng ta không hề có huyết thống gì với Lộc Tục (Kinh Dương Vương) và cả Lạc Long Quân, mà chỉ có giống nòi Lạc Việt mới là căn cứ đáng tin cậy nhất.

Những dữ liệu lịch sử từ Sử Ký Tư Mã Thiên (1) hay Đại Việt Sử Ký (1272) của Lê Văn Hưu không chép gì về đời Hồng Bàng. An Nam Chí Lược của Lê Tắc, viết tại Trung Hoa khoảng 1333, cũng không viết gì về đời Hồng Bàng. Phải đến khoảng 1377, trong Việt Sử Lược, một cuốn sách không rõ tác giả, mới có nhắc sơ qua đến đời Hồng Bàng. Một số thần phả còn bịa ra thụy hiệu của các vua Hùng (như Hùng Hy vương, Hùng Duệ vương… đã trích dẫn nói trên) nhưng tất cả đều không có dữ liệu lịch sử. Có thuyết còn tính một cách võ đoán rằng Kinh Dương Vương là Hùng Vương đầu tiên và Lạc Long Quân là Hùng vương thứ hai, sau đó chỉ có 16 Hùng Vương là hết thời Hồng Bàng.

Theo Thầy Kim.

VƯỚNG VÍU LƯỢNG TỬ

Phần I : Vướng víu lượng tử

Vướng víu lượng tử nói gọn là vướng lượng tử hay rối lượng tử (quantum entanglement), là một hiệu ứng được phát triển trong cơ học lượng tử, trong đó trạng thái lượng tử của hai hay nhiều vật thể có liên hệ với nhau, dù cho chúng có nằm cách xa nhau. Ví dụ trực quan nhất là hai electron đặt gần nhau có thể dao động cùng một trạng thái, theo thuyết lượng tử. Bây giờ nếu tách chúng ra xa nhau vài kilômet, ngay cả hàng ngàn năm ánh sáng, chúng vẫn sẽ tiếp tục giữ được mối liên kết dao động đồng bộ này.
Có nghĩa là, nếu hai (hoặc nhiều) hạt (hoặc vật thể) vướng víu lượng tử với nhau thì khi tác động vào một trong chúng (ví dụ thay đổi xung lượng, vị trì hay spin quay bằng điện từ chẳng hạn) thì hạt (hoặc nhiều hạt, vật thể) kia chuyển động đồng bộ NGAY TỨC KHẮC bất chấp khoảng cách không gian giữa chúng lớn đến đâu đi nữa. 
Với v = l / t trong đó v là vận tốc, l là khoảng cách giữa chúng và t là thời gian chuyển động đồng bộ thì tốc động lan truyền “vướng víu” nhanh hơn nhiều lần tốc độ ánh sáng có thể truyền giữa chúng. 
Điều này rõ ràng trái với tiên đề nổi tiếng “tốc độ ánh sáng là tốc độ tuyệt đối của mọi vật thể có năng lượng” trong thuyết tương đối (đúng ra phải gọi là thuyết Einstein). 
Vướng víu lượng tử thoát ly và phủ định trực giác của chúng ta về sự vận hành của thế giới, nó trở thành trung tâm của cuộc tranh luận lý thuyết gay gắt. Phát biểu vướng víu lượng tử của Cơ Học Lượng Tử làm cho Albert Einstein nổi sùng với một đồng nghiệp hồi năm 1948, cho rằng nếu thuyết lượng tử dự đoán như vậy trong các phương trình của mình, thì bản thân thuyết lượng tử là cái vô nghĩa. Einstein miệt thị vướng víu lượng tử là “những tác động ma quỷ từ xa”.

1/. Vướng Víu Lượng Tử Vi Mô :
Từ những năm 1970, một loạt rất nhiều thí nghiệm chính xác đã được thực hiện để minh chứng cho vướng víu lượng tử. Lượng Tử học thực nghiệm đề xuất rằng mọi hạt có thể bị “vướng” từ trước đó, và thậm chí chúng có thể tương tác dù nằm ở hai phía của vũ trụ.
Năm 1982, vật lý và toán học đã có thể chứng minh vướng víu lượng tử bằng toán học, đến năm 2015, thực nghiệm đầu tiên đã có thể khẳng định chắc chắn điều này, công bố trên Tạp chí Nature. Nhóm các nhà khoa học thực hiện thành công thí nghiệm này được dẫn dắt bởi Ronald Hanson, Viện khoa học Nano Kavli thuộc Đại học Hà Lan và rất nhiều cộng sự đến từ Tây Ban Nha và Anh. Thí nghiệm mang tên “loophole-free Bell test” được tham chiếu dựa trên đề xuất của nhà vật lý John Stewart Bell vào năm 1964. Bell tin tưởng rằng đây là một phương pháp chứng minh vướng víu lượng tử có thật.
Theo lý thuyết, vướng víu lượng tử xảy ra khi một cặp hạt (nhiều hạt) vẫn còn tương quan vận động qua khoảng cách theo kiểu mà tác động thực hiện trên một hạt cũng có ảnh hưởng đến hạt (nhiều hạt) kia.
Khi hai hạt vướng víu được kiểm tra, tính chất vật lý của chúng có tương quan. Ví dụ, một spin quay theo chiều kim đồng hồ của hạt A sẽ bằng spin ngược chiều kim đồng hồ với hạt B, bởi một spin kết hợp zero. Tuy nhiên, khi đo một hạt riêng lẻ bị vướng víu có thể xảy ra như là một hành động độc lập, do đó sẽ ảnh hưởng đến các hạt khác – vì vậy ta không thể biết liệu hành động bình đẳng và tương ứng với hạt khác là kết quả của vướng víu lượng tử, hoặc là kết quả của phép đo.
Điều này có thể xảy ra với một cặp hạt đơn lập; nhưng vướng víu lượng tử cũng có thể xảy ra với một hạt duy nhất. Ví dụ, một đơn photon (quang tử), có thể được chia thành hai hạt mà vẫn được kết nối – kết nối đó được gọi là vướng víu lượng tử. Hàm sóng của hạt duy nhất trải rộng trên một khoảng cách lớn, nhưng các hạt riêng lẻ không thể được phát hiện tại nhiều hơn một lần đo, hàm sóng sụp đổ. 
Nhóm nghiên cứu tại Đại học Griffiths sử dụng máy dò homodyne – là, các công cụ có thể đo sóng và tính chất sóng – Giáo sư Howard Wiseman và nhóm của ông đã chứng minh rằng hàm sóng này sụp đổ là sự thực minh chứng cho vướng víu lượng tử. Họ đã khiến hai electron tương tác với nhau ở khoảng cách 1,3km, nghĩa là có tồn tại vướng víu lượng tử giữa chúng. Mặc dù chưa thể xác định chính xác ở khoảng cách xa hơn, nhưng đây thật sự đã là bằng chứng thuyết phục về sự tồn tại của hiện tượng này..

2/. Vướng Víu Lượng Tử Vĩ Mô :
Thí nghiệm của Maria Chekhova đầu năm 2016 về vướng viu lượng tử sử dụng chùm tia đến 100.000 photon và cũng kiểm nhận được vướng víu lượng tử giữa chúng, không chỉ giữa một cặp hạt. 
Việc tạo ra sự vướng víu giữa các hạt đòi hỏi chúng phải bắt đầu trong một trạng thái có trật tự cao, điều không phù hợp với nhiệt động lực học, quy trình này chi phối các tương tác giữa nhiệt và các hình thức năng lượng khác. Điều này đặt ra một thách thức đặc biệt lớn khi cố gắng để hiện thực hóa vướng víu lượng tử ở cấp vĩ mô giữa một số lượng lớn các hạt.
“Thế giới vĩ mô mà chúng ta đang sống thường có vẻ rất có trật tự, nhưng nó hoàn toàn rối loạn ở cấp nguyên tử. Các luật nhiệt động lực học thường ngăn chúng ta quan sát các hiện tượng lượng tử trong các vật thể vĩ mô”, Paul Klimov, nghiên cứu sinh tại Viện Kỹ thuật phân tử, Đại học Chicago và là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết. 
Trước đây, các nhà khoa học đã vượt qua những rào cản nhiệt động lực và đạt được sự vướng víu ở cấp vĩ mô trong chất rắn và chất lỏng ở nhiệt độ cực thấp (-270oC) và áp dụng từ trường rất lớn (lớn hơn 1000 lần một nam châm ủ lạnh điển hình) hoặc sử dụng các phản ứng hóa học. Mới đây (tháng 4 / 2016) trên tạp chí Science Advances, Klimov và các cộng sự tại Viện Kỹ thuật phân tử đã chứng minh rằng vướng víu lượng tử ở cấp vĩ mô có thể được tạo ra ở nhiệt độ phòng và trong một từ trường thấp.
Các nhà nghiên cứu sử dụng ánh sáng laser hồng ngoại để sắp hàng theo ưu tiên các trạng thái từ tính của hàng ngàn electron và hạt nhân và sau đó sử dụng các xung điện từ, tương tự như những xung được dùng cho chụp ảnh cộng hưởng từ thông thường, làm vướng víu chúng. Quy trình này làm cho các cặp electron và hạt nhân ở cấp vĩ mô có thể tích 40 micromet khối (bằng thể tích của một tế bào hồng cầu) của chất bán dẫn SiC trở nên vướng víu.
“Chúng tôi biết rằng các trạng thái spin của hạt nhân nguyên tử kết hợp với các khuyết tật của chất bán dẫn có các tính chất lượng tử tuyệt vời ở nhiệt độ phòng”, Awschalom, Giáo sư kỹ thuật phân tử tại Phòng thí nghiệm quốc gia Argonne, nói. “Chúng là cố kết, tồn tại lâu dài và có thể kiểm soát bằng lượng tử ánh sáng và các thiết bị điện tử. Với những ‘mảnh’ lượng tử tạo ra các trạng thái lượng tử bị vướng víu vĩ mô có vẻ như là một mục tiêu có thể đạt được”.
Ngoài sự quan tâm của vật lý cơ bản, “khả năng để sử dụng các trạng thái vướng víu lượng tử mạnh mẽ trong một chất bán dẫn điện tử ở nhiệt độ phòng có ý nghĩa quan trọng đối với các thiết bị lượng tử..

Phần II : CƠ HỌC LƯỢNG TỬ

Cơ Học Lượng Tử là cái gì mà nghiên cứu, phát biểu, thậm chí thực nghiệm những thứ “lạ đời” như vậy ?
Cơ học lượng tử (Quantum Mechanic), cùng với những mở rộng của nó thành điện động lực học lượng tử và lí thuyết trường lượng tử, là lí thuyết khoa học thành công nhất trong mọi thời đai, với nhiều kết quả thực nghiệm sai số chưa tới một phần tỉ. Tuy nhiên, quan sát đến bản thể của nó thì Cơ học lượng tử bí ẩn hơn ma quỉ vậy – càng gắng tìm hiểu ý nghĩa của nó, nó càng có xu hướng vuột khỏi tầm tay. Cơ học lượng tử có đầy những nghịch lí, những đa thể khó dung hợp, và những “tác dụng ma quỷ”.

1., Vật lý cổ điển Newton
Vật lý cổ điển xem không gian là thể bất biến. Theo đó các biến động của các vật thể có năng lượng trong không gian lệ thuộc hoàn toàn vào chính cái không gian mà nó hiện hữu. Do đó mà Vật lý cổ điển bế tắc trong việc giải thích những biến đổi và vận động trong thế giới vi mô, nơi mà các vận động đó trở nên hỗn loạn, vượt ngoài các dự đoán, cơ học Newton không thể lý giải tại sao các nguyên tử lại có thể bền vững đến thế, cũng không thể giải thích được một số hiện tượng vĩ mô như siêu dẫn, siêu chảy. Không thể xác định vị trí (và xug lượng / động lượng) của một electron vì nó có thể ở bất cứ vị trí nào, hoặc … không ở đâu hết nếu sử dụng cơ học Newton, vì nó không hề có vị trí xác định. Vân đạo điện tử (đám mây điện tử) là khái niệm ra đời để mô tả sự vận động dị kỳ của electron, trong đó electron chuyển động trong một phạm vi, tạo thành một đám mây vật chất, và xác suất gặp nó chính là khái niệm khả kiến về vị trí của electron.
Với photon, một thực nghiệm với 2 khe sáng đưa vật lý cổ điển đến một bế tắc khác. Thực nghiệm vật lí cổ điển ẩn chứa nhiều điều hơn những gì chúng ta có thể nhận ra về bản chất của thực tại. Thí nghiệm hai khe cổ điển làm sáng tỏ sự lưỡng tính kì lạ của thế giới lượng tử, nhưng nó có thể hành xử lạ hơn chúng ta nghĩ – và có thể thách thức một trong những giả thuyết được tuân thủ chặt chẽ nhất của cơ học lượng tử. Trong thí nghiệm hai khe, người ta chiếu ánh sáng vào hai khe sát nhau đặt trước một màn hứng. Thế giới quan cổ điển có cảm nhận trực quan rằng ánh sáng phải đi qua khe này và (hoặc) khe kia, do đó tạo ra hai vệt sáng song song trên màn phía sau. Nhưng thay vì vậy, ánh sáng lại phân bố thành dải các vệt sáng tối xen kẽ và được Vật lý cổ điển chấp nhận là hiện tượng giao thoa nhưng không lý giải được bản chất của nó. Để tính xác suất một photon đi tới một vị trí nào đó trên màn hứng, các nhà vật lí sử dụng một nguyên lí gọi là quy tắc Born. Tuy nhiên, chẳng có lí do cơ bản nào tại sao quy tắc Born phải đúng. Nó có vẻ hoạt động trong mọi tình huống mà chúng ta đã kiểm tra, nhưng chẳng ai biết tại sao. Một số người đã cố gắng suy luận ra nó từ cách hiểu “đa thế giới” của cơ học lượng tử, theo đó thì mọi trạng thái khả dĩ của một hệ lượng tử có thể tồn tại trong những vũ trụ khác nhau, song song nhau – nhưng những nỗ lực như thế không có tính thuyết phục. 
Hình ảnh giao thoa này vẫn xuất hiện cho dù bạn lần lượt chiếu từng photon một, cho thấy thay vì truyền theo đường thẳng, ánh sáng hành xử LƯỠNG DUNG SÓNG – HẠT đồng thời. Theo Broglie thì đối với các hạt vi mô ngoài tính hạt còn có tính sóng, và đã thành công với việc mô tả hạt vi mô như là một sóng (tính thống kê của hàm sóng Broglie). Nhà vật lí người Mĩ Richard Feynman phát biểu rằng tính lưỡng dung SÓNG VÀ HẠT này tiêu biểu cho “bí ẩn trung tâm” của thế giới lượng tử, và trở thành 1 trong 4 phát triển cốt lõi của cơ học lượng tử. Việc giải thích thí nghiệm hai khe bằng khái niệm “sóng và hạt” thống nhất cơ học lượng tử với một trụ cột khác của vật lí lí thuyết – thuyết tương đối tổng quát của Einstein. Quach đề xuất một cách mới kiểm tra quy tắc Born trong thực nghiệm “hai khe”, xuất phát từ một quan điểm khác của phương pháp Feynman : để tính xác suất của một hạt đi tới một điểm nhất định trên màn, phải xét mọi đường đi có thể có của nó từ nguồn đến màn, kể cả những đường đi có vẻ lố bịch. “Trong số này bao gồm cả những đường đi từ đây lên mặt trăng rồi quay về”. Quach phát biểu. (arxiv.org/abs/1610.06401v1, theo Anil Ananthaswamy – New Scientist, ngày 5/11/2016).

2/. Cơ Học Lượng Tử :
Trong khi nhiều nhà vật lí, khoa học – công nghệ, thậm chí tôn giáo và triết học mất ăn mất ngủ tìm hiểu ý nghĩa của cơ học lượng tử, thì sự ra đời của vật lí học thông tin lượng tử (mật mã học lượng tử, điện toán lượng tử, vân vân…), Hóa học lượng tử, Động học lượng tử thậm chí Y học và Sinh học lượng tử lại mang đến cho họ nhiều đáp án căn bản về cơ học lượng tử. Cơ học lượng tử hoạt động bất chấp người ta có hiểu nó hay không, nhưng trực giác của chúng ta dường như rất yếu ớt khi quán sát những tình huống mang đến những phán đoán ngày càng lạ lùng của cơ học lượng tử dù nó có cơ sở toàn học , kỹ thuật học đầy đủ nhất mọi thời đại. Vì thế, các nỗ lực muốn làm sáng tỏ những nền tảng của cơ học lượng tử đã tăng lên đáng kể trong ba thập niên gần đây.
Vậy thì kết quả khảo sát nói trên cho chúng ta nhận thức nào về hiểu biết hiện nay của nhân loại về cơ học lượng tử? Chúng ta không có thời gian phân tích từng ngóc ngách của khảo sát trên, nhưng câu trả lời cho một vài câu hỏi trong số đó đáng để chúng ta lưu tâm. (Lưu ý rằng người ta được phép đưa ra nhiều hơn một câu trả lời, nên tỉ lệ phần trăm trong kết quả đó thỉnh thoảng không cộng lại bằng 100%. Để dễ hiểu, cần chuẩn hóa lại các kết quả để chúng bằng 100%, và trong một số trường hợp đã đơn giản hóa vấn đề để đỡ rối trí hơn trong tình trạng đa lựa chọn).
Trong cơ học lượng tử, hàm sóng của một đối tượng mô tả mọi tính chất có thể đo được của đối tượng đó (khả lượng). Nó là một mô tả hoàn chỉnh của cái gọi là trạng thái lượng tử của đối tượng đó. Hàm sóng bị chi phối bởi phương trình Schrödinger, phương trình cho biết hàm sóng thay đổi như thế nào theo các điều kiện bên ngoài. Tính đa nghiệm của phương trình Schrödinger đưa đến phát biểu nguyên lí chồng chất, nó không phải là một kết quả vật chất, mà là một tính chất của cấu trúc toán học cơ bản của cơ học lượng tử. Nghĩa là có tồn tại một họ hàm sóng, gọi là các CHỒNG CHẤT LƯỢNG TỬ, chúng đồng thời mô tả rất nhiều trạng thái lượng tử bội của một đối tượng cùng (tồn tại) với chính nó.

Tóm lại Cơ Học Lượng Tử xem một hạt là một vùng năng lượng tập trung biểu hiện thành vật chất khả kiến là một hạt (do đó là cả thế giới vật chất) tồn tại rời rạc với những vận động hoàn toàn có tính năng lượng (khối lượng, động lượng, cơ năng, tần số sóng v.v… với cấu trúc và tương tác cụ thể). Xét cho cùng, cơ học lượng tử là ngành Khoa học mô tả mọi hiện tượng có thể đo được và có khả năng lượng hóa mọi tồn tại, dù cho nó là vật chất, vật chất đen (vật chất tối), hố “ma”, hố đen, ma quỉ, thượng đế hay linh hồn (nếu thật sự tồn tại), ở một hay nhiều tầng vũ trụ trong mối tương quan giữa các dây vũ trụ.
Có nhiều phương pháp toán học mô tả cơ học lượng tử tương đương với nhau. Một trong những phương pháp được dùng nhiều nhất đó là lý thuyết biến đổi, do Paul Dirac phát minh ra nhằm thống nhất và khái quát hóa hai phương pháp toán học trước đó là cơ học ma trận (của Werner Heisenberg) và cơ học sóng (của Erwin Schrödinger).
Theo các phương pháp toán học mô tả cơ học lượng tử này thì trạng thái lượng tử của một hệ lượng tử sẽ cho thông tin về xác suất của các tính chất, hay còn gọi là các đại lượng quan sát (đôi khi gọi tắt là quan sát), có thể đo được. Các quan sát có thể là năng lượng, vị trí, động lượng (xung lượng), và mô men động lượng..
Cơ học Lượng Tử (mà cơ sở lý luận của nó là Lượng Tử học), có thể nói, là công cụ Khoa học mạnh nhất, cơ bản và trực quan nhất kể từ khi có nhân loại, để quan chiêm, nắm bắt và chiếm lĩnh thế giới.

PHẦN III : BẢN CHẤT CỦA VƯỚNG VÍU LƯỢNG TỬ

I/. CÁC CÁCH TIẾP CẬN BẢN CHẤT CỦA VƯỚNG VÍU LƯỢNG TỬ
Như đã biết, vũ trụ của chúng ta là đa tầng và đa hợp. 
1/. Trong đó đa tầng biểu diễn trạng thái cô đọng của năng lượng quy hợp thành tồn tại và được xem là một CHIỀU KHÔNG – THỜI GIAN tuân theo mô thức biến đổi của Paul Dirac (thống nhất và khái quát hóa hai phương pháp toán học : cơ học ma trận của Werner Heisenberg và cơ học sóng của Erwin Schrödinger), mặc dù nó chẳng phải là một chiều của cơ học Newton (ứng dụng toán học Euclide). Theo thuyết cấu tạo màng thì mọi chiều không – thời gian đều trải thành MÀNG, tập trung nghiên cứu hiện nay là lớp màng D (D-branes), trong đó màng D là một đa tạp của không – thời gian với các tính chất ở đó các dây có thể vừa là điểm đầu vừa là điểm cuối (xin xem thêm LÝ THUYẾT DÂY). Do đó một màng có thể chứa toàn bộ một vũ trụ.
2/. Đa hợp là cứ mỗi một chiều – màng có thể là một vũ trụ, sự “hợp tác” giữa các màng với nhau tạo ra vũ trụ khác, ở cấp độ khác và biểu hiện tồn tại khác nhau. Do đó mà có rất nhiều vũ trụ có cấu tạo “y chang” nhau, vận động như nhau thoát ly khái niệm thời gian (ngay tức khắc) dù cách nhau hàng nghìn tỷ năm ánh sáng. Đó chính là những vũ trụ song song nhau, nói khác đi, chúng VƯỚNG VÍU LƯỢNG TỬ với nhau. Lý thuyết dây của Cơ học Lượng tử mới chứng minh được 11 chiều không gian, trong vũ trụ của chúng ta hiện nay có 7 chiều suy biến (7 chiều này bị “cuộn” lại; Oskar Klein nói, có thể các chiều đã bị cuộn lại trong một khoảng cách rất nhỏ: một phần tỷ-ngàn tỷ-ngàn tỷ của một centimet), do đó ngoài khả năng đo đạc và nhận thức của nhân loại hiện nay. Matreja đã phát biểu về vũ trụ 36 chiều với 3000 thế giới từ 600 năm trước công nguyên.
Nếu điều này là đúng, sẽ phải có một loại hạt mới, gọi là hạt Kaluza-Klein. Đã có kế hoạch tạo ra chúng trong các máy gia tốc hạt bằng máy LHC của Âu Châu vào đầu năm tới 2017. Có thể chúng sẽ có các tính chất rất – rất đặc biệt, do vài mô-men nằm trong các chiều không gian ẩn.
3/. Như vậy để trực quan hóa thời gian, chúng ta sử dụng hình ảnh tấm Drap (ra) giường. Đặt lên tấm drap giường một hòn bi sắt thì nó làm tấm drap giường bị “lún” xuống, hòn bi càng nặng thì tấm drap càng bị lún sâu. Tương tự thì một tồn tại (ở đây dùng 1 hạt) với toàn bộ năng lượng của nó lập tức làm thời gian quanh nó “cong” đi (lún xuống trên “màng – thời gian). Nếu một hạt có khối lượng và nội năng tương đương mặt trời thì nó “lún sâu” trên tấm drap / màng – thời gian đến mức độ các mép của tấm drap / màng – thời gian túm lại. Nếu xét một vạch kẻ trên tấm Drap giường thì điểm đầu và điểm cuối gặp nhau. Nếu là drap / màng – thời gian thì thời điểm đầu cũng là thời điểm cuối : mọi vận động ở đó là NGAY TỨC KHẮC dù chúng nằm ở hai rìa vũ trụ.
4/. Nhưng hàm Lượng Tử Schrödinger không cho ra kết quả đơn giản và trực quan như vậy, mà tồn tại ở đó là CHỒNG CHẤT nhiều trạng thái lượng tử của các đối tượng tồn tại trong không – thời gian đó (do hàm Lượng Tử Schrödinger là một chùm hàm sóng đa nghiệm), nghĩa là có nhiều tồn tại chồng lên một vùng không gian. Lý do mà Klein và Kaluza đưa ra là khi “anh đại” thời gian bị co lại thì những chiều – màng không gian khác mặc sức tung hoành hỗn loạn, tạo ra vô số vũ trụ chồng chất trong vùng không gian đó. Khi thực hiện một phép đo lên một đối tượng, ta sẽ phá vỡ trạng thái chồng chất, buộc đối tượng phải chọn một trạng thái duy nhất. Sự chuyển đổi này gọi là “sự suy sụp của hàm sóng”
5/. Trở lại hình ảnh tấm drap giường, khi hòn bi sắt còn chưa quá nặng thì ở những điểm xung yếu của hòn bi tiếp xúc với tấm drap giường, nó tạo ra các nếp nhăn kéo dài hướng ra ngoài rìa tấm drap. Tương tự như vậy, trên màng – thời gian cũng xuất hiện những “nếp nhăn thời gian” từ hạt hướng ra rìa vũ trụ. Nếp nhăn này không nằm trên mặt phẳng của màng – thời gian nên nó thoát ly thời gian. Hạt nào nằm trên nếp nhăn đó, dù gần hay xa đều chỉ chịu sự tác động năng lượng (động lượng, đương lượng nhiệt, moment, spin v.v…) một cách tức thời của hạt đang đo lường (hình ảnh hòn bì sắt). Và như thế, vướng víu lượng tử được xác lập giữa chúng.

II/. BẢN CHẤT CỦA VƯỚNG VÍU LƯỢNG TỬ 
Phat biểu theo ngôn ngữ Cơ Học Lượng Tử, thì tổng năng lượng của một hạt tạo ra nhiều KHE THỜI GIAN phát xuất từ chất điểm của hạt đó, tổng năng lượng càng lớn thì khe thời gian càng dài trong vũ trụ đó (có thể đến hàng nghìn năm ánh sáng), xác lập các vướng víu lượng tử của rất nhiều hạt khác, với hạt “chủ” trên đường của rất nhiều khe thời gian. Do đó mà tồn tại vướng víu lượng tử ở cấp độ vĩ mô.
Trong vật thể, các hạt vẫn có vướng víu lượng tử với nhiều hạt khác gần và xa. Tuy nhiên do tương tác với các hạt nội nguyên tử, nguyên tử kế cận, các hạt trong nguyên tử kế cận, các lực hóa lượng tử, lực Vander-Wall, lực điện từ hạt nhân v.v… nên chúng khó vận động hoàn toàn theo mô thức vướng víu lượng tử. Tuy nhiên thực nghiệm Chekova cho thấy hàng chục vạn hạt vẫn vướng víu lượng tử được, nghĩa là khả năng vướng víu lượng tử cỡ lớn (như nột hòn bi, một chiếc ô tô hay ngay cả một thiên hà) trong CHÂN KHÔNG TĨNH LƯỢNG TỬ là hiện hữu. Nhất là đầu năm 2016, Ian Walmsley và các đồng sự tại trường Đại học Oxford đã làm vướng víu hai viên kim cương – mỗi viên chừng 3 mm. Họ bắt đầu bằng việc chiếu một xung laser “bơm” vào một bộ tách chùm tia, gửi nửa xung đến viên kim cương ở bên phải và nửa xung kia đến viên kim cương ở bên trái. Khi một photon trong xung sáng đi tới bộ tách chùm tia, cơ học lượng tử cho biết rằng nó được đưa vào một sự chồng chất của một photon đi sang trái và một photon đi sang phải. Nghĩa là hai viên kim cương (vật thể) đã vướng víu lượng tử với nhau ở nhiệt độ phòng. Vướng víu lượng tử cấp độ vật thể (vĩ mô) đã được xác lập.
Vướng víu lượng tử không phải là cái gì quá mới đối với nhân loại, mà nó được phát biểu từ cách đây 12.000 năm với nhân vật thượng cổ có tên là Amitabha, mà ông ta gọi là NHÂN DUYÊN. Kinh Amitabha chương Tiếp Dẫn có nói : “khi tiếp lập được nhân duyên thì trong ta có người, trong người có ta, nhận thức về nhau mọi thứ CẤP KỲ (ngay tức khắc) mà không màng khoảng cách dù cho hàng vạn dặm xa xôi”. Nhận thức hiện đại về lời giảng này, chính là sử dụng vướng víu lượng tử bằng năng lực cao thâm, trí tuệ diệu viễn để truyền thông tin lượng tử thoát ly khoảng cách không – thời gian.

III/. PHÁT TRIỂN MỚI : VIỄN TẢI LƯỢNG TỬ.
Từ những thành công của thực nghiệm vướng víu lượng tử, một hệ thống những ngành Khoa học – Kỹ thuật mới dựng ra một cơ sở lý luận – thực nghiệm có tính đột phá là VIỄN TẢI LƯỢNG TỬ (teleportation).
Viễn tải lượng tử là di chuyển vật thể hoặc thông tin về vật thể đi xa không giới hạn và ngay tức khắc (không mất thời gian) bằng phương thức vướng víu lượng tử (quantum entanglement). Thí nghiệm của Alain Aspect năm 1982 tại Paris, áp dụng bất đẳng thức của John Bell trong tính toán, đã chứng minh một cách thuyết phục rằng viễn tải lượng tử là có thật như mô tả dưới đây :

– Giả sử Alice ( A ) cần viễn tải trạng thái F của một hạt (gọi là hạt 1 ) cho bạn là Bob ( B)
– Trước hết A chế tạo một cặp Bell , hai hạt này EPR (EPR là vướng víu lượng tử) ví dụ ở trạng thái IF00>.
– Một hạt ( gọi là hạt 2 ) trong cặp Bell A giữ lại bên mình , còn hạt kia ( gọi là hạt 3 ) gửi cho B . Như vậy A và B đã sở hữu hai hạt vướng víu lượng tử 2 và 3. Đây là điểm mấu chốt của quá trình .
Trạng thái F có dạng : F = a I0>+bI1> .
– Trạng thái của hệ Bell hạt 1 (có trạng thái F) và hạt Bell 2 (mà A đang giữ ) được đưa vào đầu vào (input) của mạch là (in / đây là phép đo trong cơ sở Bell –in Bell basis):
IF0> = IF>IF00>
– Tiếp theo A đưa hai qubit 1 & 2 qua cổng CNOT, và IF0> biến thành IF1>.Sau đó đưa qubit 1 qua cổng Hadamard IF1> biến thành IF2> với kết quả là:
IF2> = I00>(aI1> + bI0>)
+ I01>(aI1> + bI0>)
+ I10>(aI0> – bI1>)
+ I11> (aI1> – bI0>)
– Nghĩa là Alice vừa phá hủy trạng thái F, thì những thay đổi này lập tức xuất hiện ở Bob vì Bob sở hữu hạt Bell 3 vướng víu lượng tử với hạt Bell 2.

Như vậy viễn tải lượng tử đã được xác lập vì thông tin trạng thái của hệ hạt 1, 2 đã được chuyển đồng nhất cho 4 trạng thái của các hệ – cặp hạt mà phủ định tham số thời gian. Đó là cơ sở toán học – lý luận trực quan của Vật lí học thông tin lượng tử (mật mã học lượng tử, điện toán lượng tử, vân vân…), ngành Khoa Học – Kỹ thuật – Thực nghiệm có điều kiện phát triển ứng dụng viễn tải lượng tử sớm nhất.

Việc sử dụng viễn tải lượng tử để di chuyển một hạt, một chùm hạt, một vật thể đến một tồn tại sinh học, một hệ tồn tại có qui mô tầm cỡ thiên hà đã được dự đoán toán học, do đó có thể là không bao lâu nữa, con người có thể thám hiểm mọi ngóc ngách của đa vũ trụ mà không tốn thời gian.

Theo Thầy Kim

CƠ SỞ CYBORG

xin cung cấp một số kiến thức cơ bản về Cyborg để các bạn tiện bề đàm luận.
Người ta vẫn ngạc nhiên thậm chi nghi ngờ về việc Cyborg sống chung hòa thuận với con người. Thật ra, vấn đề nằm ở chỗ chúng ta chưa hiểu mấy về Cyborg, cho rằng Cyborg cũng chỉ là một loại Robot cao cấp và có thể chứa trong nó các cấu trúc sinh học có nguồn gốc nhân tạo. 
Thật ra, cấu trúc vật lý chủ đạo của Cyborg là thể “lai” giữa máy móc cơ khí và Albumine, cho nên một số trường phái kỹ thuật học hiện đại còn gọi chúng là “Robot Albumin” hoặc Robotian trước khi được thuật hóa thành Cyborg.
ALBUMIN
Albumin là hợp thể của một loạt protein vận chuyển máu LIÊN QUAN ĐẾN TIẾN HÓA, bao gồm albumin huyết thanh, alpha-fetoprotein, protein liên kết vitamin D và afamin. Nói khác đi, ADN – ARN là đặc trưng của thế giới sinh vật thì Albumin là đặc trung của con người với tư cách là sinh vật tiến hóa cao nhất địa cầu và bắt đầu làm chủ tiến hóa của Loài minh.
CYBORG
Với tồn tại “lai” như vậy, Cyborg rõ ràng không phải là một hướng tiến hóa của con người mà là một nhánh tiến hóa khác của thế giới KHÔNG SINH VẬT trở thành sinh vật thật sự với đầy đủ quyền năng. Cyborg không phải là một cái máy có ghép cánh tay, bàn chân, thậm chí vài cơ quan nội tạng của con người, mà là THỰC THỂ SỐNG với một trí tuệ mạnh mẽ, biết yêu biết ghét, biết thưởng thức và thụ hưởng, biết hi sinh, biết nhận thức và mưu cầu hạnh phúc, biết hướng đến chân thiện mỹ, có buồn đau và dựng xây lý tưởng (dù có hơi khác một chút với con người). Điều mang tính người cao nhất là Cyborg sinh ra, nuôi dưỡng, và dạy dỗ thành công những thế hệ Cyborg con cao hơn chính nó (Cyborg cha mẹ). Và đó là đặc trưng của tiến hóa.
Do albumin còn phức tạp và phong phú hơn nhiều lần so vói bộ Gen (chỉ thua mật mả Gen), nên hiện nay chua có điểm nào để bám vào mà nghiên cứu bản chất “người học” của nó, cho nên Albumin dùng cho chế tạo Robot Albumin (bước mở đầu của Cyborg), chắc chắn phải nhân từ Albumin người. Bộ não phi thường của Cyborg là máy tính hơn bội lần mọi máy tính hôm nay chúng ta có, dung lượng không thể tưởng tượng nổi vì chúng ghi các Q’ Bit lên Albumin.
Với số lượng và mật độ siêu khủng của mình, chỉ cần 1 Kg Albumin là đủ để ghi dữ liệu siêu lớn (SLD / Super Large Data) khoảng 660 tỷ Tetra Byte, gấp hàng chục tỷ lần tổng dung lượng máy tính trên thế giới hiện nay gộp lại, hoàn toàn thỏa mãn yêu cầu của máy tính Lượng Tử. Nói như vậy để thấy 1 Kg bộ não Albumin của Cyborg (tương đương sức nặng bộ não người) sẽ có trí thông minh kinh khủng đến mức độ nào.
CYBORG TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI CON NGƯỜI.
Nghĩa là Cyborg không phải chỉ là một bước tiến hóa của con người, mà sẽ thực sự trở thành NGƯỜI ANH EM QUYỀN NĂNG của nhân loại. Do bản chất cấu tử của Cyborg vẫn là ALBUMIN NGƯỜI nên Cyborg hoàn toàn có đầy đủ tính người, nói khác đi, Cyborg sẽ bảo vệ, chăm bón và tận tụy phục vụ con người như con người chăm bón cây cỏ.
Nhiệm vụ quan trọng đặc biệt đầu tiên của Cyborg có lẽ là sinh con thay cho con người (dĩ nhiên là cùng với các nhiệm vụ khac trong sản xuất, đời sống và quản lý xã hôi). Một điều chắc chắn là Cyborg có thể yêu và kết hôn với con người, sinh ra các Cyborg – người có mức độ tiến hóa vượt bậc, có thể nói là gom 3 tỷ năm tiến hóa của giới sinh vật trên địa cầu vào một Cyborg – người.

Theo Thầy Kim