SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

Tĩnh mạch: là các mạch máu làm ống dẫn đưa máu nghèo ôxy của cơ thể trở về tim.

Có 3 loại tĩnh mạch ở các chi:

(i) tĩnh mạch nông nằm trong da và dưới da,

(ii) tĩnh mạch sâu nằm trong các nhóm cơ, 

(iii) tĩnh mạch xuyên kết nối hai loại trên.

Máu ở chân trở về tim chủ yếu qua đường các tĩnh mạch sâu. Bình thường máu tĩnh mạch trở về tim nhờ có: 

(i) Lực đẩy từ đông mạch, lực hút do tim co bóp; 

(ii) Áp lực âm trong lòng ngực hút máu về tim; 

(iii) Sự co bóp của các khối cơ cẳng chân (“bơm cơ”), ép vào các tĩnh mạch sâu và đẩy máu đi về tim; và (iv) Hệ thống van trong lòng tĩnh mạch, giữ không cho máu trào ngược dòng.

Khi có trục trặc hệ thống van một chiều của tĩnh mạch (bị suy), sẽ xuất hiện dòng máu trào ngược dẫn đến tình trạng ứ trệ máu trong lòng tĩnh mạch và làm tăng áp lực tĩnh mạch ở cẳng chân, lâu dần dẫn đến tình trạng suy tĩnh mạch mạn tính. Nhiều trường hợp chúng tạo ra huyết khối.

– Huyết khối tĩnh mạch nông hiếm khi gây biến chứng, không nguy hiểm đến tính mạng, tuy vậy cần thăm khám cẩn thận để loại trừ huyết khối tĩnh mạch sâu phối hợp.

– Huyết khối tĩnh mạch sâu đôi khi có thể bong ra và đi lên phổi, gây thuyên tắc động mạch phổi với tỷ lệ tử vong rất cao.

NGUYÊN NHÂN SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

– Thói quen đứng hay ngồi lâu gây ứ trệ máu và tăng áp lực tĩnh mạch của chi dưới.

– Huyết khối tĩnh mạch sâu ngăn cản dòng máu trở về tim.

– Viêm tĩnh mạch với hình thành huyết khối trong các tĩnh mạch sâu hoặc nông.

– Khiếm khuyết van do bẩm sinh.

– Nhiều yếu tố khác: nữ giới, sinh đẻ nhiều, béo phì hay quá cân, táo bón kinh niên, di truyền, nội tiết, sử dụng thuốc ngừa thai, môi trường làm việc nóng và ẩm, lười thể dục, hút thuốc lá, tuổi trên 50…

TRIỆU CHỨNG SUY TĨNH MẠCH MẠN TÍNH CHI DƯỚI

Các triệu chứng và dấu hiệu sớm của bệnh bao gồm:

– Bệnh nhân có cảm giác bó chặt ở bắp chân, nặng chân, mỏi chân, mất ngủ. Có khi thấy tê, kiến bò vùng bàn chân.

– Vọp bẻ (chuột rút) ở bắp chân, thường xảy ra về đêm.

– Sưng phù xung quanh hai mắt cá, thấy rõ vào buổi tối.

– Các triệu chứng thường nặng lên về chiều tối, hoặc sau khi đứng lâu, sau một ngày làm việc, và giảm bớt vào buổi sáng khi ngủ dậy, hoặc sau khi nghỉ ngơi, kê chân cao.

DƯỢC PHÁP

Về dược pháp, sử dụng các bài thuốc tăng cường thành mạch, giảm sức căng nội mạch + cải thiện tình trạng nhược cơ. Bài thuốc cụ thể là bài “Thập Tứ Anh Hào trị suy van tĩnh mạch” với 2 hình thức sử dụng cùng lúc dưới đây:

1/. Dược liệu: Tỏi ta 10g, Đương quy 20g, Xích thược 20g, Hồng hoa 15g, Đào nhân 16g, Xuyên khung 15g, Sinh địa 15g, Thục địa 10g, Hoàng kỳ 12g, Hòe hoa 20g, Đan sâm 20g, Hạt dẻ ngựa (cao) 5g, Cúc vạn thọ (bông, tách Quercetagetin) 5g hoặc cúc vạn thọ (bông và lá) 20g, Ớt (tách Capsaicin) 10g hoặc ớt 4 trái.

Cách làm:

a/. Thuốc uống: 

– 11 vị đầu sắc 2 chén rưỡi còn nửa chén, 3 nước như nhau trộn đều chia làm 3 phần uống trong ngày.

– Cho 3 vị sau vào khi uống.

b/. Thuốc bôt hãm uống như trà.

– 11 vị đầu sấy khô, xay bột.

– 3 vị sau bỏ vào trộn đều.

– Khi dùng, lấy 1 muỗng cafe bột hãm nước sôi trong 1 ly vừa, uống như trà ngày 3 lần.

2/. Công dụng: giảm trương lực thành tĩnh mạch, gây co mạch, giảm kích thước tĩnh mạch, đánh tan huyết khối, kháng viêm, chống phù nề.

3/. Dược trình 25 thang.

Để hỗ trợ trị liệu, cần phụ dụng các bài thuốc tăng cường thể trạng, trị nhược cơ.

Thân ái. 

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 12/2/2017.

BỆNH ZONA

Bệnh zona (zôna hay zôna thần kinh) là một loại bệnh cấp của hệ thần kinh trung ương, do virus varicella zoster nhiễm vào hạch của các rễ sau gây đau dây thần kinh rồi phát ban, nổi nốt phỏng nước cấp tính, có đặc điểm là những thủy bào tụ thành hõm, vành đai mọc theo đường dây thần kinh một bên người, kèm theo triệu chứng đau như lửa châm và các hạch bạch huyết ngoại vi sưng to, giống Herpes trên vùng da thuộc về dây thần kinh đó.

Triệu chứng là ban đỏ, biến chuyển thành mụn nước thành đám kiểu chùm nho với cảm giác ngứa, nóng và rát, xuất hiện ở mọi nơi trong cơ thể (môi, mắt, miệng, nách, bẹn, tay chân và thân thể, thậm chí vào hậu môn, trực tràng hay kích ứng cả vào hệ tiêu hóa, bài tiết và hô hấp gây các biến chứng trầm trọng hơn). Khoảng 2 đến 4 tuần sau thì lành ngoài da nhưng cảm giác đau nóng có thể kéo dài khá lâu. Có biểu hiện viêm ở hạch đàng sau và đôi khi trong sừng sau của tủy. Nốt phỏng là do huyết thanh tiết dưới lớp sừng. 

Những bệnh nhân cao tuổi, đặc biệt là trên 60 tuổi sau khi bị zona vết loét đã lành hẳn vẫn để lại sự cắn nhức, đau đớn rất lâu, có  người đã bị zona hàng chục năm trước mà vẫn  còn để lại di chứng.

Tỷ lệ người mắc bệnh zona mỗi năm là 1,2 – 3,4 ca mỗi 1.000 người. Tỷ số này tăng lên 3,9 – 11,8 đối với người trên 65 tuổi.

Varicella zoster là Virus gây bệnh thủy đậu, nghĩa là bệnh nhân trước đó đã từng mắc bệnh thủy đậu (trái rạ). Thường thì bệnh nhân nhiễm thủy đậu khi còn nhỏ rồi lành bệnh ngoài da nhưng virus không bị diệt mà ẩn vào trong tế bào thần kinh, hạch thần kinh dưới dạng không hoạt động (tiềm sinh). Sau một thời gian dài, có khi hằng mấy chục năm, virus tái hoạt thành bệnh zona. Virus sẽ lan theo đường đi của dây thần kinh rồi bộc phát ở trên da tương ứng với khu vực của dây thần kinh đó. Động lực khiến varicella zoster virus (giống như Herpes) tái hoạt sau nhiều năm tiềm phục thì với Y Khoa thông thường vẫn còn là một bí ẩn.

Với phương pháp thống kê Y Học thì Y Dược Học Lượng Tử cho thấy nguyên nhân tái hoạt của varicella zoster virus (và Herpes) sau nhiều năm tiềm phục có liên quan với suy giảm miễn dịch / quá tải tinh thần và thể xác / môi trường sống (ô nhiễm hoặc – và thay đổi đột ngột gây sốc nhiệt, sốc biến dưỡng v.v…) / stress kéo dài và cả lối sống (thụ động, thiếu mục đích, lười vận động, suy giảm lạc quan v.v…).

Một số người còn gọi bệnh này là giời leo, tuy nhiên đó là một sai lầm, vì tên gọi này vốn dùng để chỉ các triệu chứng viêm da dị ứng do côn trùng. Bệnh Zona đã được Y Dược Học Lượng Tử chữa lành trong tất cả các trường hợp tiếp cận, ở mọi cấp độ bệnh lý.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 25/8/2015.

VIÊM TAI GIỮA

Bé bị viêm tai giữa thường quấy khóc cả ban ngày lẫn ban đêm, kêu đau ở tai hoặc không nghe được, hoặc ngứa khó chịu trong tai (gãi tai). Biểu hiện đi kèm là sốt bất thường dai dẳng từ 38oC – 39oC. Viêm tai giữa nặng còn có chảy dịch trắng hoặc vàng đục từ tai, có thể có mùi hôi thối.

Có 70% các trường hợp viêm tai giữa là do viêm mũi và viêm họng không được điều trị dứt điểm, dịch tràn vào tai gây bệnh viêm tai giữa (thuốc Tây Y đa phần là kháng sinh chống viêm và chỉ dừng triệu chứng tạm thời, không có khả năng chữa bệnh).

Nếu không được điều trị kịp thời, bệnh có thể dẫn đến biến chứng nguy hiểm hoặc để lại di chứng nặng nề, rất khó khắc phục, ảnh hưởng đến sức khỏe và có thể gây nhiều biến chứng như: Thủng màng nhĩ, xơ cứng khớp giữa các xương con, mất khả năng nghe, nguy hiểm hơn là viêm màng não – viêm màng não mủ.

Cho nên dược pháp chữa viêm tai giữa phải là một combo liên hoàn tăng cường các hệ tự vệ cho Bé + chữa cả viêm họng và viêm xoang mũi cùng với trị bệnh viêm tai giữa thì mới hết hẳn và không có tái phát.

Dược pháp:

– Viêm 90g + Xoang mũi 70g + Herpes họng 70g + Tăng Hồng cầu 50g + Tăng thể trạng 50g. Dùng ngày 3 lần / lần 1 viên / 1 Kg cân nặng.

Dược pháp có thể gia cường bằng Giải độc 50g + Zika (viên) 50g.

– Thuốc nhỏ mũi và tai 1 lọ, ngày nhỏ 2 lần / lẩn 1 giọt vào mỗi bên tai và mũi.

Chúc con và các bạn thành viên may mắn, khỏe mạnh và thành đạt!

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 14/3/2019.

ĐAU DẠ DÀY

* Cụm từ “đau bao tử”, “đau dạ dày” thực chất đề cập đến nhiều triệu chứng của bệnh ở khu vực dạ dày, là bệnh đường tiêu hóa phổ biến trên thế giới.

1/. Viêm loét dạ dày (bờ cong lớn, bờ cong nhỏ và thân dạ dày).

2/. Viêm loét hành tá tràng.

3/. Viêm đau thượng vị dạ dày.

4/. Viêm đau van dạ dày, thân dạ dày, polyp dạ dày, ung thư dạ dày (thường kèm theo hôi miệng, hơi thở có mùi khó chịu).

5/. Kích ứng dạ dày (đau kiểu vọp bẻ cơ dạ dày, râm ran kéo dài hoặc từng cơn dữ dội, còn gọi là đau bụng bão – dạ dày).

* Nguyên nhân của các chứng đau dạ dày nói trên đều xuất phát từ một (vài) thứ sau đây:

1/. nhiễm  Helicobacter Pylory (HP).

2/. dư lượng của những loại Tây Y có tác dụng gây hại trên dạ dày.

3/. ăn uống sinh hoạt không điều độ.

4/. stress kéo dài: thần kinh căng thẳng làm tăng tiết axit HCl, một trong những nhân tố làm tổn hại niêm mạc, gây viêm và loét dạ dày.

5/. nhiễm virus Herpes tiêu hóa khu trú dạ dày (VN chưa có nhận thức và phương tiện xét nghiệm cũng như trị liêu Herpes hiệu quả).

6/. Ngoài ra còn phải kể đến ăn uống thực phẩm chứa kiềm NaOH lâu dài do sử dụng nước rửa chén không xả kỹ, sẽ gây polyp, gây ung thư hệ tiêu hóa, gây đau dạ dày mãn tính.

* Mỗi nguyên nhân có cách chữa trị rất khác nhau. Cách chữa chung chung của Đông – Tây Y tại VN hiện nay có thể tạm thời làm giảm kích thước các ổ viêm loét nhưng không thể trị nguyên nhân gây bệnh đau dạ dày được. Do đó tái phát và tái phát ngày càng nặng hơn là chuyên bình thường.

Kích ứng ruột – hở van dạ dày

Triệu chứng: Tâm lý không tốt, can tì bất hòa, lâu lâu ợ chua. 

Bài thuốc: Bạch truật 12g, Bạch thược 12g, Bách hoa xà thiệt thảo 15g, Trần bì 8g, Phòng phong 8g, Dạ cẩm (lan lá cẩm)10g, Bông cúc vạn thọ 10g, Bồ công anh 18g, Bột nghệ 10g, Mật ong 15g. 

Cách dùng:

– 12 thang, sắc 3 chén còn 8 phân, 3 nước như nhau chia uống trong ngày.

– 7 thang xay bột uống ngày 2 lần, lần 1 muỗng cafe.

– 5 thang hấp chín xay nghiền, uống ngày 3 lần mỗi lần 1 muỗng canh trước mỗi bữa ăn.

Bài thuốc này dùng cho người thường co thắt dạ dày nhưng “nho nhói” ở gan, lâu lâu ợ chua nhưng không có triệu chứng dư acid, ăn uống thờ ơ, có nguồn stress âm thầm. Là tổng hợp của vài dạng “đau dạ dày” phức tạp.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 2015.

BỆNH GÚT

Là bệnh dễ chữa, tuy nhiên khả năng tái phát (và nặng hơn) sau chữa trị là hơn 96%. Có thể phát biểu kết luận y học theo cách dễ hiểu hơn, Gút là bệnh dằng dai, tái đi tái lại thường xuyên và ngày càng nặng hơn. Gút gây đau đến mức stress, choáng mạnh làm kinh hoàng bệnh nhân nên còn được gọi là THỐNG PHONG.

*Về nguyên nhân trực tiếp, như chúng ta đã biết, Gút do không ổn định Uric máu theo hướng tăng. Gút có hai thể phổ biến là :

– Thể Gút CẤP TÍNH: Biểu hiện bằng những đợt viêm cấp và đau dữ dội của khớp ngón chân cái, nên còn gọi là “gút do viêm”.

– Thể Gút MẠN TÍNH: Biểu hiện bằng dấu hiệu nổi các cục “tophi” và viêm đa khớp mạn tính, do đó còn được gọi là “gút do lắng đọng”.

** Về nguyên nhân sâu xa, Gút được xem là có nguồn gốc từ:

a/. DI TRUYỀN: Trong gia đình có bố mẹ mắc phải bệnh gout thì nguy cơ đến thế hệ con cháu nguy cơ mắc bệnh chiếm tỉ lệ 35- 40%. 

b/. THÓI QUEN ĂN UỐNG: dùng nhiều những thức ăn có chứa purin (Gan, lòng, thịt, cá, tôm, cua) dùng nhiều bia, rượu. Việc ăn uống quá nhiều chất đạm làm tăng axit uric trong máu, lâu ngày sẽ gây tích tụ các tinh thể muối urat tại các khớp gây bệnh Gút.

c/. CHỨC NĂNG GAN, THẬN kém làm giảm quá trình đào thải axit uric trong máu gây bệnh Gút. 

Chữa Gút phải theo 3 dược trình sau:

1/. Giảm triệu chứng (8 thang thuốc, uống trong 16 ngày).

2/. Ổn định và loại trừ sự tăng Uric máu (16 thang thuốc, uống trong 16 ngày).

3/. Kiện toàn các hệ chức năng nội tạng, chống tái phát (20 thang, uống trong 40 ngày).

I/. Dược trình 1: Cam thảo đất 15g, táo mèo 15g, vỏ bưởi 25g, hạt chuối sứ 10g, củ ráy tía 10g, củ sơn thục 10g, củ khúc khắc 10g, lá lốt 20g, dây tơ hồng 10g, cà gai leo 15g, củ tỏi đỏ 10g, cây bồ công anh 10g, lá vông nem 10 lá.

Sắc 3 nước như nhau, 3 chén còn 1 chén, trộn đều chia đôi, mỗi ngày uống một phần.

II/. Dược trình 2: Cua đồng 1 con, lá lốt 20g, đậu xanh (rang vàng) 20g, hạt sen 15g, nấm lim xanh 15g, rau diếp cá 15g, nhộng tằm 10 con, râu bắp 10g, rễ tranh 5g, lạc tiên 10g.

Sắc 2 nước như nhau, 3 chén còn 1 chén, uống 2 lần trong ngày.

III/. Dược trình 3: Cải bẹ xanh 30g, bột sắn dây 10g, bột đậu xanh 15g, chuối chát 15g, rau má 15g, cỏ mực 20g, lá trầu 5 lá, củ tỏi trắng 1 củ đập giập, lạc tiên 10g, lá vông nem 5 lá, rễ tranh 5g.

Sắc 3 nước như nhau, 3 chén còn 1 chén, trộn đều chia đôi, mỗi phần uống trong 1 ngày.

*** Bài thuốc này của Y Dược  Học Lượng Tử rẻ tiền, tự tìm, mua và làm ở nhà không cần cầu cạnh ai cả nhưng chữa bệnh Gút rất nhanh chóng và tiêu trừ mọi nguy cơ tái phát có thể có.

****Trong thời gian phục dược (nhất là dược trình 1 và 2) thì cần giảm bớt việc ăn uống thực phẩm qúa nhiều đạm, tránh nhậu nhẹt say sưa nhưng không khắc nghiệt đến mức cấm dùng.

Chúc các bạn mau hết bệnh, lấy lại sức khỏe và phong độ để góp phần của mình xây dựng và bảo vệ Đất Nước.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 2015.

LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG

(Systemic lupus erythematosus)

Lupus ban đỏ là bệnh tự miễn, trong đó hệ miễn dịch tấn công các tế bào khỏe mạnh của cơ thể dẫn đến tình trạng viêm mạn tính và tổn thương các mô, đa tạng. Có 2 dạng Lupus chính :

LUPUS BAN ĐỎ DẠNG ĐĨA (thể mạn) là thể thường gặp (chiếm 77% trường hợp), vị trí thường là ở đầu, niêm mạc môi, lưng bàn tay hay khuỷu tay, khoeo và bắp chân, thường có khoảng 1-3 đám phát ban mỗi chỗ. Ba triệu chứng cơ bản là: ban đỏ, dày sừng, teo da. 

LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG là thể nặng nhất, có thể tiên phát hoặc thứ phát từ các bệnh khác, thể khác chuyển thành. Bệnh có khi cấp tính, có khi từ từ, nhiều trường hợp tử vong sau thời gian ngắn, có khi lại diễn biến mãn tính, lúc tăng lúc giảm thất thường. Tổn thương da và niêm mạc giống như Lupus dạng đĩa, nhưng đa dạng hơn, rộng khắp. 

LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG LÀ BỆNH HIẾM GẶP, tiên lượng cực xấu, bệnh nhân thường tử vong sau một thời gian mắc bệnh. Nguyên nhân gây bệnh do vi rút nhóm Herpes B tác động vào hệ miễn dịch, gây mù lòa cho Lympho T, Lympho B, cơ thể tự tấn công chính mình gây viêm, tổn thương cấp các cơ quan nội tạng, xương khớp trong cơ thể.

BIỂU HIỆN BỆNH LUPUS BAN ĐỎ HỆ THỐNG là:

ĐAU KHỚP: khoảng có 90% đau các khớp to nhỏ chân tay, biển hiện viêm khớp phong thấp, có khi dẫn đến teo cơ biến dạng, đau khớp cố định hoặc di chuyển.

TỔN THƯƠNG ĐA TẠNG: 

– 30-50% tổn thương tim mạch (viêm nội hoặc ngoại tâm viêm màng tim, viêm cơ tim, tổn thương mạch máu và thành mạch), 

– 45-75% tổn thượng thận (viêm cầu thận, suy thận cấp), 

– 25% biểu hiện biến chứng tâm thần kinh (co giật, liệt nứa người, rối loạn tâm thần, viêm dây thần kinh ngoại biên), 

– 20-60% tổn thương phổi (viêm phổi, viêm màng phổi, phổi ứ nước). 

– Ngoài ra (có thể) kèm theo rối loạn tiêu hoá và bài tiết; viêm gan, viêm lách, sưng hạch rải rác, rụng và bạc tóc, viêm nang lông, viêm âm đạo, viêm tử cung, viêm vòi trứng và buồng trứng v.v…. 

– Sốt thường không cao, nhưng cũng có lúc cao đến 40-41 độ C (diễn tiến cấp tính).

Bệnh có triệu chứng lâm sàng rất đa dạng và bệnh cảnh phức tạp, rất khó chẩn đoán chính xác, nhất là thể lupus không có tổn thương ngoài (trên đây chỉ giới thiệu 2 thể lâm sàng thường gặp). Tây Y hóa dược không thể chữa được bệnh Lupus ban đỏ hệ thống mà chỉ làm giảm các triệu chứng của bệnh, kéo dây dưa đến khi nào bó tay thì trả về.

TUY NHIÊN ĐỪNG QUÁ LO, vì Lupus ban đỏ hệ thống hoàn toàn có thể chữa lành bằng Y Dược Lượng Tử.

DƯỢC PHÁP

1/. Giải độc cơ thể

a/. Giải độc cấp (7 ngày) và giải độc cấp độ tế bào (2 liệu trình trong 24 ngày).

b/. Sử dụng combo Fucid để giải phóng độc tố trực tiếp trên các vùng biểu bì tổn thương.

2/. Bài thuốc Lupus ban đỏ 1

Sài hồ 12, Bạch truật 12, Bạch thược 12, Trần Bì 8, Trích thảo 6, Sinh khương 12, Bạc hà 10, Bạch linh 12, Sinh địa 12, Xích thược 15, Đào nhân 16, Xuyên khung 6, Cát cánh 6, Cam thảo 4, Hồng hoa 12, Chỉ sác 8, Ngưu tất 12, Qui đầu 12, Chùm ngây 12, Calcium Melias 12, Thục địa 12, Hoài sơn 12, Ớt đỏ 3 trái.

Đơn vị: gam

Sắc 3 chén còn 1 chén, 3 nước như nhau uống trong ngày.

Tác dụng: đánh dấu tế bào ngoại sinh và phái sinh, dùng hệ đồng hóa – dị hóa để “tiêu hóa” và đào thải chúng ra khỏi cơ thể, giảm và ly khai các phản ứng gây độc. Khôi phục đa tạng (chủ đạo là bì tạng) và đa khớp.

Dược trình: Sau 12 ngày, có kết quả tốt thì chuyển sang bài Lupus ban đỏ 2.

3/. Bài thuốc Lupus ban đỏ 2

Đẳng sâm 16, Bạch truật 12, Lược vàng 10, Cam thảo 4, Hoài sơn 12, Biển đậu 12, ý dĩ 12, Trần bì 6, Cát cánh 8, Liên nhục 12, Xa nhân 6, Bạch linh 16, Quế chi 12, Nội kê kim 10, Lá cây chay 5 lá.

Đơn vị : gam

Sắc 3 chén còn 8 phân, 3 nước như nhau uống trong ngày.

Tác dụng: hoàn phục tích cực chức năng đa tạng, đa khớp.

Dược trình 25 thang.

4/. Khôi phục hệ đồng hóa – dị hóa sau khi hết bệnh. Uống nhắc bài thuốc

Lupus ban đỏ 2 sau mỗi 2 tháng (7 thang) trong vòng 1 năm.

Chúc các bạn bệnh nhân Lupus chữa lành bệnh, tìm lại được cuộc sống lành mạnh và niềm vui sống để cống hiến và phụng sự cho gia đình và Tổ Quốc.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 19/1/2017.

HỘI CHỨNG ĐẬU LÀO

Đậu Lào không phải là bệnh mà là một hội chứng, dân gian còn gọi là bênh “vú sề”, xếp vào bệnh thời khí, thường xuất hiện vào giai đoạn giao mùa. Nguyên nhân được xem là do huyết thụ độc khí, huyết nhiệt sinh ra.

Đậu Lào không khó trị, nhưng thường khó đáp ứng do không có bài thuốc chuyên biệt, trong dân gian vẫn thường lan truyền các kiểu chữa không hoặc kém hiệu quả, chỉ giảm nhẹ triệu chứng mà bệnh vẫn còn đó, nhanh tái phát hoặc tái phát theo mùa vào mỗi năm.

*Chữa đậu Lào với bài thuốc: Địa long Sài hồ thang.

Địa long 15 gam (nướng vàng), Lá chanh tươi 8 gam, Sinh địa 20g, Đương quy 16g, Bạch thược 12g, Hoàng cầm 12g, Tri mẫn 12g, Sài hồ 8g, Kim ngân hoa 16g, Cát căn 8g, Liên kiều 4g, Trần bì 4g, Cam thảo 4g, Sinh khương 1 lát.

Gia giảm: nếu sốt nhiều, bụng ì ạch, nước tiểu đỏ thì gia thêm Đại hoàng 12g, nghiền hoặc mài với thuốc mà uống.

Công dụng: thanh tâm giải nhiệt, lương huyết, tiêu độc, chuyên chữa trị đậu Lào. Khi uống thuốc thấy tiêu chảy là đúng, vì thuốc đã thanh được huyết nhiệt, tiêu được nhiệt độc mà đi tiêu chảy. Hết tiêu chảy là hết bệnh.

Chú ý: chỉ nên ăn các thức ăn dễ tiêu.

Cách dùng: Bài thuốc có 3 cách dùng, tùy theo điều kiện mà sử dụng (trong đó cách 3 là tốt nhất):

1/. 12 thang, ngày 1 thang, sắc 3 nước như nhau, 3 chén còn 8 phân trộn đều chia uống trong ngày. Tổng dược trình 12 ngày.

2/. 7 thang, sao khô xay bột, viên hoàn, chia uống trong 14 ngày.

3/. 6 thang, rửa sạch dược liệu, hấp trong nồi áp suất 30 phút, dùng máy nghiền / nén, gia thêm 40g đường mỗi thang để có Sirop Đậu Lào. Chia uống trong 15 ngày.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 24/5/2017.

TUỔI DẬY THÌ (Kỳ 2)

Nhân loại bắt đầu dậy thì ở độ tuổi 8-16 và ngày càng sớm hơn. Nghiên cứu của ĐH Sydney, Aus 11/2016 ghi nhận phát dục dậy thì không cá biệt bắt đầu từ 5-8 tuổi.

5/. Hành động cụ thể

a/. Tìm hiểu con

– Cha/mẹ càng bắt đầu nói về sự thay đổi càng sớm thì càng giúp trẻ cởi mở hơn trong những năm sau này. Đưa cho bé những cuốn sách viết về tuổi dậy thì, chia sẻ những kỷ niệm của tuổi vị thành niên của riêng mình cho con. Việc biết rằng cha/mẹ cũng đã trải qua tuổi dậy thì như mình, bé sẽ cảm thấy dễ dàng hơn.

– Đặt mình ở vị trí của con : tập đồng cảm với con bằng cách giúp con hiểu rằng khi nó có một chút lo lắng hay nhạy cảm là hoàn toàn bình thường, và cũng sẽ ổn thôi nếu con vừa mới cảm thấy rất người lớn cách đây một phút và rồi thấy mình quá trẻ con vào phút tiếp theo.

– Biết bạn bè của con và cả cha mẹ của chúng: Việc liên lạc thường xuyên giữa các cha mẹ có thể tạo ra một môi trường an toàn cho tất cả các thanh thiếu niên đồng trang lứa. Cha mẹ có thể giúp đỡ lẫn nhau nắm được các hoạt động của trẻ mà không làm cho các em cảm thấy đang bị theo dõi.

– Theo dõi những gì con xem và đọc: Chương trình truyền hình, tạp chí và sách, Internet – trẻ em có quyền truy cập vào hàng tấn thông tin. Cảnh giác những gì trẻ xem và đọc. Đừng ngại thiết lập giới hạn về số lượng thời gian trước máy tính hoặc TV. Biết những gì con đang học tập từ các phương tiện truyền thông và những người chúng giao tiếp trực tuyến.

Bé không nên có quyền truy cập không giới hạn vào TV hay Internet ở nơi riêng tư — những hoạt động này nên để ở nơi sinh hoạt chung cả nhà. Truy cập công nghệ cũng nên bị giới hạn sau những giờ nhất định (khoảng 10 PM hoặc tầm đó) để khuyến khích ngủ đủ giấc.

– Tôn trọng sự riêng tư của con trẻ: Một số cha/mẹ gặp khó khăn với điều này, cảm thấy rằng bất cứ điều gì trẻ em làm đều liên quan đến họ. Nhưng để giúp con trở thành một người lớn, cần cho chúng sự riêng tư. Nếu nhận thấy có rắc rối, có thể can thiệp sự riêng tư của chúng cho đến khi biết được vấn đề. Nhưng nếu không, hãy để chúng tự do.

Nói cách khác, phòng của con, tin nhắn, email, và điện thoại nên được riêng tư. Cũng không nên mong đợi con chia sẻ tất cả những suy nghĩ hoặc hoạt động của chúng. Tất nhiên, vì lý do an toàn, cần luôn biết nơi con đang ở, khi nào chúng về, những gì chúng đang làm, và với ai, nhưng không cần phải biết mọi chi tiết. Và chắc chắn đừng nên mong đợi sẽ được mời tham dự cùng.

– Âm thầm theo sát con yêu: Một số thay đổi nhất định có thể được xem là bình thường trong những năm thiếu niên, nhưng thay đổi tính cách quá nhanh hoặc lâu dài có thể báo hiệu rắc rối thực sự -đây là loại mà cần sự giúp đỡ các chuyên gia tâm lý. Hãy cảnh giác với một (hoặc) những dấu hiệu sau: Tăng hoặc giảm cân quá nhiều; Có vấn đề về giấc ngủ; Thay đổi tính cách nhanh chóng; Đột ngột thay đổi bạn bè; Nghỉ học liên tục; Điểm số sụt giảm; Nói chuyện hoặc thậm chí đùa giỡn về tự tử; Các dấu hiệu sử dụng thuốc lá, rượu, hoặc ma túy; Vi phạm pháp luật

Bất kỳ hành vi không thích hợp mà kéo dài trong hơn 6 tuần cũng có thể là một dấu hiệu của sự cố tiềm ẩn.

b/. Tự đào tạo để gần con

– Đọc sách về thanh thiếu niên: hồi tưởng về bản thân khi ở lứa tuổi dậy thì. Cần nhớ mình đã đấu tranh với mụn trứng cá hoặc mắc cỡ như thế nào khi phát triển sớm hoặc trễ. Hãy đợi những thay đổi tâm trạng trong đứa con ngoan của bạn, và chuẩn bị tâm lý cho nhiều cuộc xung đột khi chúng trưởng thành như là một cá nhân. Cha mẹ lường trước những gì sẽ xảy ra biết cách xử lý tốt hơn . Và biết càng nhiều, sẽ càng được chuẩn bị tốt.

– Chọn trận mà đánh

Nếu con muốn nhuộm mái tóc, sơn móng tay màu đen hoặc mặc quần áo kỳ quặc, hãy suy nghĩ kỹ trước khi phản đối. Trẻ dậy thì muốn gây sốc cha/mẹ và tốt hơn là nên để bé làm điều gì đó tạm thời và vô hại; dành sự phản đối lại cho những điều thực sự quan trọng, như thuốc lá, ma túy và rượu hoặc vĩnh viễn thay đổi diện mạo của chúng như xăm trổ, châm lửa vào người hay điều gì gần như vậy.

– Cung cấp thông tin cho con – và cho chính cha/mẹ. Những năm thiếu niên thường là một thời gian thử nghiệm, và đôi khi thử nghiệm đó bao gồm hành vi nguy hiểm. Đừng né tránh các chủ đề như tình dục, ma túy, rượu, và thuốc lá; thảo luận về những việc này với bé một cách cởi mở trước khi chúng tiếp xúc với những vấn đề đó sẽ làm tăng cơ hội để bé hành động có trách nhiệm khi đến thời điểm. Chia sẻ giá trị gia đình với trẻ và thảo luận về những gì bạn tin là đúng và sai.

– Đặt kỳ vọng ở trẻ: Bé có khả năng không hài lòng với những kỳ vọng của cha mẹ đặt trên chúng. Tuy nhiên, chúng cũng hiểu rằng cha mẹ quan tâm nên mới có những mong đợi nhất định như điểm tốt, hành vi cư xử tốt, và tuân thủ các quy tắc của gia đình. Nếu cha mẹ có những mong đợi thích hợp, con sẽ cố gắng đáp ứng. Nếu sự kỳ vọng không hợp lý, con có thể cảm thấy tủi thân vì không được quan tâm.

c/. Người cha trong gia đình cần cảnh báo về những mối nguy cho con gái về:

– Kẻ săn mồi

Con gái luôn trông đợi một ở người đàn ông mạnh mẽ trong đời và nếu bố họ không được như vậy hay không sẵn sàng trở thành người như thế, họ sẽ tìm kiếm ở nơi khác. Những kẻ săn mồi luôn trực sẵn. Đây là một mối nguy thực sự với những cô gái.

Trẻ em Âu Châu (trong đó có tuổi dậy thì) được dạy dỗ để hiểu và thực hành “nguyên tắc bạn thân”: Trẻ không được phép ở một mình ở nơi lạ; khi đi đâu xa, muốn ở lại, không chỉ gọi điện cho bố mẹ là đủ… Cha mẹ không thể giữ chặt tay con mọi lúc, mọi nơi, nhưng có thể trang bị cho con những kỹ năng sinh tồn cần thiết.

– Cần dạy con có tấm lòng độ lượng, biết thiện nguyện và biết giúp đỡ người khác nhưng cũng cần học cách phát hiện những kẻ lợi dụng, gian xảo, biết ai đó lợi dụng chúng.

– Tránh nguy hiểm: Tai nạn giao thông, hiểm nguy các hồ nước, sông suối v.v…là một mối nguy lớn với các bé. Vì thế, cần đưa ra các quy định bắt buộc và nguyên tắc bất di bất dịch với chúng, không có ngoại lệ. Dây an toàn, sử dụng điện thoại khi đi ô tô xe máy v.v… cần được đưa ra và thống nhất. Cho bé dùng ô tô, xe máy là một đặc ân, không phải là quyền lợi. 

d/. Điều này bao giờ sẽ chấm dứt?

Khi bé phát triển xuyên suốt những năm thiếu niên, sẽ nhận thấy sự thăng trầm của tuổi dậy thì. Và cuối cùng, chúng sẽ trở thành những người biết giao tiếp, biết chịu trách nhiệm và độc lập.

Vũ Kim. 

————————-

(còn tiếp : Vai trò đặc biệt của Người mẹ với con trẻ dậy thì)

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 5/2/2017.

RƯỢU VÀ ĐỘC TÍNH

Muốn giảm bớt độc tính của rượu, trước hết phải biết bản chất độc tính của rượu, nói khác đi là phải xác định độc tính của rượu do cái gì gây ra.

1/. RƯỢU 

Rượu, là tên gọi của Ethylic, còn gọi là rượu etylic, rượu ngũ cốc, là hợp chất hữu cơ nằm trong dãy đồng đẳng của rượu metylic, dễ cháy, không màu, là chất liệu căn bản có trong thành phần của bia rượu. Quá trình phân giải rượu thu năng lượng và tạo ra nước, dĩ nhiên rượu thì không độc nếu không sử dụng quá liều, chỉ gây hưng phấn và gây nghiện nhưng nhiều trường hợp gây tai biến não, đột tử … khi uống quá nhiều và liên tục.

Đặc biệt, rượu (ethylic) phân hóa rất nhanh (say nhanh, tỉnh nhanh) và không dể lại di chứng. Dấu hiệu ban đầu là nói nhiều, lộn xộn, mất thăng bằng (hoa chân múa tay) do trung tâm thần kinh bị ức chế; sau đó chuyển sang trạng thái mệt mỏi, ngủ li bì, do toàn bộ thần kinh trung ương bị ức chế. Say rượu thông thường ít khi tử vong (trừ trường hợp ra lạnh, hay vốn có bệnh tim mạch).

2/. CỒN 

a/. Methanol, còn gọi là CỒN, được tạo ra trong quá trình lên men ngũ cốc thô sơ. Do hiểu biết kém về hóa thực phẩm và không kiểm soát được nguyên liệu lên men, chủng loại men và qui trình lên men không chặt chẽ, trong vật liệu lên men chứa pectin, sau đó pectin bị các enzyme phân giải thành methanol. Pectin có ít trong các loại ngũ cốc, nhiều hơn trong các loại trái cây (mía, nho, dâu…), và các vụn celluloz (vỏ ngũ cốc, vụn gõ v.v…).

Lên men rượu thủ công, bao giờ cũng tạo ra một lượng methanol ngoài ý muốn, trong rượu (mạnh) chứa methanol từ 10 – 220mg/l, trong khi chuẩn an toàn là 100 mg/l. 

b/. CỒN có tác dụng sinh học ban đầu giống như rượu (lâng lâng, hưng phấn …), nhưng sau đó thì gây tai hại chết người (nhiễm độc Methanol). Methanol gây độc do uống, hít, thấm qua da. Cơ chế gây độc của methanol là:

– CỒN (methanol) đào thải rất chậm ra khỏi cơ thể và tích lũy đến khi đủ nồng độ giết người.

–  Khi vào cơ thể, metanol được chuyển hóa bằng phản ứng ôxy hóa biến thành formaldehyd và acid formic rất độc, làm ngừng hô hấp tế bào, nhất là tế bào thần kinh, tích lũy ở dây thần kinh thị giác làm rối loạn nhãn thị. Dấu hiệu của ngộ độc metanol là không còn nhìn thấy mọi vật và có khi mù hẳn ngay cả khi đã được cấp cứu tránh khỏi tử vong.

– Gian thương không ngại pha CỒN vào nước (làm rượu CỒN) hoặc rượu nhẹ (tăng “độ”) để bán vì giá thành rất nhỏ, lợi nhuận lớn. Do đó mà có những vụ ngộ độc CỒN bi thảm trên cả nước, như ở Hậu Giang, Sóc Trăng, Yên Bái, Bình Định ….

3/. CHẤT ĐỘC HOÁ HỌC

Sau khi cất ra rượu kiểu thô sơ, trong rượu chứa một lượng con men rượu, chúng tiếp tục lên men gây chua. Một số kẻ tán tận lương tâm không ngần ngại pha một ít thuốc trừ sâu để diệt con men “tồn dư” này, làm cho rượu trong vắt, không bị chua, thậm chí uống vào còn say nhanh, say sâu hơn rượu thường. Do đó rượu “thuốc rầy” dễ bán, dễ tồn trữ, thậm chí còn được “ái mộ” hơn.

Methanol dễ dàng được hấp thu qua ruột, da, phổi của người, đạt nồng độ đỉnh trong huyết tương sau 30 – 60 phút rồi được phân bố rộng rãi vào các chất dịch của cơ thể với thể tích phân phối là 0,6 lít/kg, được chuyển hóa chậm và thất thường ở gan. Khoảng 3% lượng methanol đưa vào cơ thể được đào thải qua phổi hoặc đào thải nguyên vẹn không thay đổi qua nước tiểu.

Methanol trong rượu, đựng trong bình kín có độ bền hóa học không dưới 60 năm. Nếu hạ thổ …. 60 năm mới đem ra dùng thì chắc chắn là không còn lo nhiễm độc methanol, còn những thứ khác như thuốc trừ sâu, diệt rầy thì …. bó tay.

Phương thức làm rượu khủng khiếp này chưa từng được ghi nhận ở bất cứ đâu trên thế giới, trừ Việt Nam.

Tóm lại, các thứ chất độc trong “rượu dân gian” ở Việt Nam là rất nhiều thứ, và cũng khó phát hiện, khó thanh lọc (ví dụ như chất độc hóa học của rượu “thuốc rầy” thì càng bó tay). Trong đó chỉ riêng chất độc methanol (CỒN) thì còn có phương pháp lọc bằng máy lọc rượu KAG. Máy chứa các hạt vật liệu khử, ứng dụng công nghệ khoa học châu Âu với tính năng loại bỏ metanol, este, andehit,…mà độ rượu vẫn không thay đổi, đồng thời duy trì hương vị đặc trưng vốn có ban đầu của rượu.

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 14/6/2017.

CHÂN VÕ

Một trong những nhận thức cốt lõi và có tính quyết định của nội gia Kungfu (Kungfunara intha) là khái niệm CHÂN VÕ.

Trong đó võ học nội gia Kungfu được phân tầng thành 4 cấp độ từ thấp đến cao như sau:

1/. VÕ LỰC: là các thể thức vận động nhằm nâng thể tạng (và thể trạng), tăng sức sống, kiện toàn khả năng thích nghi và đồng hóa – dị hóa để làm chủ cuộc sống, tạo kỹ năng phô diễn sức mạnh. Nó tương đồng ở mức độ nào đó với một tổng hòa của điền kinh, cử tạ, bơi lội, thể dục thể hình v.v… công lại.

2/. VÕ THUẬT: là phương thức chuyên biệt sử dụng lực hợp lý với hiệu quả tối đa trong chế thắng đối phương (thiên nhiên, thú vật, con người v.v…). Võ thuật có những tiêu chí mang tính nguyên lý rõ ràng và xuyên suốt, như Thiếu Lâm là Thần Oai Cương Mãnh, Võ Đang là Tứ Lạng Bạt Thiên Cân v.v…, nó quán xuyến toàn bộ tư duy và hành động, nhận thức và ứng xử của người học võ. 

3/. VÕ CÔNG: vượt khỏi những ràng buộc vê nhân thân, về thể trạng, về xuất phát điểm cơ địa, võ công cho phép kiến tạo nội lực (đại lực) và dồn toàn bộ lực lượng đó vào một (vài) bộ phận của cơ thể với những biểu hiện, sức công phá và khả năng chế thắng đến mức thần kỳ (thần công).

4/. VÕ ĐẠO: là giai đoạn làm chủ cơ chế sinh tồn, tiến tới nắm bắt, thủ đắc và sử dụng được năng lực của “những tầng trới đất”. Với Kungfu thì năng lực Ba La Mật (1) vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu và là cứu cánh để đạt đến tự tại. Trong đó tự tại được hiểu là “tồn tại an nhiên, là dấn sâu vào tịnh độ, là thoát khỏi ách ta bà, là cảnh giới tối cao của thiền định” (Di Lạc Kinh Văn).

Nhìn qua 4 cấp độ đó, ta thấy:

– 3 cấp độ đầu (võ lực + võ thuật + võ công) là để thắng người, và có khả năng làm điều đó.

– Võ Đạo là để THẮNG MÌNH (2), là khả năng vượt qua ngũ uẩn, vượt qua nhất thiết khổ ách. Vì vậy mà các thuật giả ở tầm võ đạo nội gia Kungfu không thể bị ngoại tà (bệnh) xâm nhập, có khả năng nhận thức trực diện (ngộ) cái mà mới ngày hôm qua còn chưa nghĩ tới, sức sáng tạo là cực kỳ mạnh mẽ trải ra đến vô cùng để ngang bằng với trới và đất (an nhiên).

– Dừng lại ở bất cứ cấp độ nào (võ lực, võ thuật, võ công) cũng là chỉ để tàn lụi nhanh hơn vì tục lụy thế gian, vì gìa nua bệnh tật và vì cái “máy xay người” tàn nhẫn có tên là sinh tử luân hồi. 

Thương lắm thay nhân gian !!!

Vũ Kim – SIVA Technology.

——————————-

Chú thích: 

(1) Ba La Mật là năng lực vô cùng vô tận của hư không, từ hư không mà đến, vì hư không mà đi, và còn lại hư không (16 sơ huệ nội gia Kungfu).

(2) Thắng một vạn quân không khó bằng tự thắng mình (phẩm Ngàn, Kinh Pháp Cú).

Nguồn: Thầy Wambua Dominic (Vũ Kim), 15/12/2016.